Một thời hoàng kim

Heesun Kim

Sinh năm 1972 tại Chuncheon, Heesun Kim tốt nghiệp Cao đẳng Dược, Đại học Quốc gia Kangwon và hoàn thành bằng Thạc sỹ về Văn học Hàn Quốc tại Đại học Dongguk. Cô xuất bản lần đầu vào năm 2011 và giành Giải thưởng Nhà văn Mới được tổ chức bởi tạp chí văn chương Jagga Segye (Thế giới của Nhà văn). Tác phẩm của cô bao gồm tuyển tập truyện ngắn Hoàng đế của Ramen và tiểu thuyết dài Cuốn sách của vô biên.

“Qui dit proches, te dit deuils. Car les problèms ne viennent pas seuls”

“Cái quái gì đang diễn ra vậy…” người thợ khóa nhủ thầm. Ông đưa mắt nhìn quanh cửa hiệu tối tăm chật chội của mình. Đây thực sự là nơi mình đã làm việc mỗi ngày trong suốt 30 năm cuộc đời ư? Ông lão đứng dậy và kiếm tìm khắp mọi ngõ ngách trong cái cửa hiệu u tối và bí bách. Lần lượt mở từng ngăn kéo một, nơi ông cất giữ vô số thứ linh tinh, những ngón tay của ông lướt qua những chùm chìa khóa mẫu vẫn được ông treo trên những chiếc đinh tường. Đúng như ông dự đoán, tất cả mọi thứ vẫn vẹn nguyên, chẳng có gì xê xích. Tuy nhiên, ông chẳng thể rũ bỏ cảm giác rằng không chỉ cửa hiệu của ông mà cả thế giới này đã khác trước rất nhiều. Nói cách khác, ông cảm thấy như thế toàn bộ thế giới đã biến chuyển 360 độ theo hướng ngược lại (tức là, đã có một hướng ban đầu để bắt đầu) và trở về vị trí xuất phát điểm của nó.

Điều tương tự cũng xảy ra với cậu nhóc con trai ông khi nó vừa mới chỉ chào tạm biệt ông bằng giọng điệu léo nhéo trước khi ùa đi cùng đám bạn. “Cha già, nhớ bảo trọng khi tôi không ở đây. Tôi sẽ mang quà về”, anh ta nói lớn bằng giọng điệu lạnh lùng nhưng lão thợ khóa hiểu rõ rằng từ sâu trong trái tim anh, anh rất lo lắng về việc ông bị bỏ lại một mình trong vài ngày. Khi ông già vẽ những vòng tròn nhỏ lên tấm lịch bàn cạnh đống ổ khóa, khuôn mặt của ông tỏa rạng một nụ cười. Đột nhiên, ông có một cảm xúc rất kỳ lạ. Ông cảm thấy như thể ông đã lặp đi lặp lại những khoảnh khắc tương tự này nhiều lần trong một thời gian dài. Khi nhìn thấy những giọt nước mắt lã chã rơi trên bàn làm việc, ông mới chợt nhận ra mình đang khóc. “Ôi trời ơi, thật ngớ ngẩn làm sao…” Ông vội vàng lau nước mắt, và lắc lắc cái đầu, rồi bật cười khúc khích. Mọi người thường cho rằng tuổi già là quãng thời gian khiến người khác phải lo lắng chỉ vì những điều chẳng có gì to tát. “Tất nhiên là không, nó chẳng có ý nghĩa gì sất”, ông nhủ thầm một lần nữa và lấy ra một miếng băng dính để bọc xung quanh ngón tay cái bên phải của ông. “Tôi đoán sau tất cả tôi là một lão già. Tôi thậm chí chẳng thể nhớ nổi đã bao lần những ngón tay của tôi bị thương”. Ông nhìn chằm chằm vào móng tay bị gẫy của mình rất lâu và bắt đầu đánh bóng một bên chìa khóa trên cái máy sao chìa.

Thật khó để tìm được một cửa hiệu đồ điện tử cũ ở Xa lộ 405. “Hãng điển tử Si Gong”. Tên cửa hiệu chỉ có thể nhìn thấy được trên tấm biển hiệu đã bong tróc sơn. Tôi nhìn chăm chú qua ô cửa kính u ám, và phát hiện thấy một vài chiếc radio cũ, mấy chiếc nồi cơm điện, mấy chiếc quạt, và vài chiếc ti vi hỏng hóc đang được xếp hàng. Chẳng có ai trong cửa hiệu. Tôi cố đẩy cánh cửa nhưng nó chẳng hề nhúc nhích. Đột nhiên, ai đó đặt tay lên vai tôi. Giật mình, tôi quay lại và thấy một người đàn ông lực lưỡng với một bộ râu rậm rạp đứng đằng sau mình.

“Anh đang tìm gì phải không?” anh ta hỏi.

Tôi gật đầu. “Vậy thì, hãy theo tôi”. Khi anh ta mở khóa cửa, gương mặt anh vẫn nhẹ nhàng và bình tĩnh cứ như thể anh đang mong đợi tôi đến vậy. Nhìn từ bên trong, cửa hàng trông to hơn tôi nghĩ. Một vài chiếc máy mà tôi chưa từng thấy trước đây bị vứt la liệt xung quanh, và bàn làm việc chất đầy các dụng cụ khác nhau như thể ai đó vừa làm việc ở đó cách đây một phút. Người lạ kéo một chiếc ghế sắt từ một góc cửa hiệu lộn xộn với đủ mọi thứ vặt vãnh, và miễn cưỡng phủi đám bụi bám đầy trên ghế. Khi tôi lúng túng ngồi xuống, anh ta mở chiếc tủ lạnh ở phía sau cửa hàng, rồi hỏi “Anh có muốn uống gì không?”. Không thèm đợi tôi trả lời, anh ta lựa một chai nước uống dinh dưỡng và mở nó cho tôi. Tôi cố để bày tỏ mục đích của chuyến đi, nhưng anh ta vẫy tay. “Không sao. Tôi biết đến đây làm gì. Anh đang tìm Ông Kim Sang-ok phải không?”. Ngay sau đó, anh ta chỉ vào bìa cuốn sách tôi đang cầm, với tựa đề Hologram Universe: Hướng dẫn thực hành được in rõ ràng bằng các chữ cái màu đen gọn gàng.

Chẳng ai biết ông Kim Sang-ok học vẽ từ khi nào. Thật vậy, hầu hết mọi người đều nói: “Lão ấy chưa bao giờ học vẽ. Cả cuộc đời lão chỉ bận rộn với việc đánh chìa khóa, vậy thì thời gian đâu mà vẽ vời cơ chứ?” Tuy nhiên, một vài người lại cho rằng một bức tranh như thế sẽ không đòi hỏi quá nhiều sự khéo léo về kỹ thuật vẽ. Trên thực tế, bức tranh của Kim Sang-ok có thể được hiểu theo những cách hoàn toàn khác nhau phụ thuộc vào cách mà mọi người trả lời câu hỏi “Nghệ thuật là gì?”. Đôi khi nó xuất hiện như một bức tranh trừu tượng nổi bật được một nghệ sĩ thiên tài vẽ, trong khi từ một số góc nhìn khác, nó trông thật tẻ nhạt và ngây ngô như một bức vẽ nghuệch ngoạc của trẻ con. Tuy nhiên, một điều chắc chắn là: khi ngắm nó lần đầu tiên, hầu hết mọi người đều có những hồi đáp tương tự nhau. Nói cách khác, họ bộc lộ sự ngỡ ngàng và lặng đi trong giây lát. “Ôi trời!” Những người già làng bao gồm cả thẩm phán đều đồng ý rằng họ nên tham khảo ý kiến của một chuyên gia về bức họa của ông Kim Sang-ok, và bằng cách nào đó họ đã mời một giảng viên nghệ thuật học từ một trường đại học gần đó. Vị giảng viên rời khỏi xe có vẻ miễn cưỡng nhưng sau khi nhìn trực tiếp bức tranh trong tầng hầm, anh ta cũng phản ứng tương tự như những người xem trước đây. Tầng hầm khổng lồ với cốt thép vững chắc của nó tạo ấn tượng rằng nó hẳn sẽ là một nơi nương náu an toàn ngay cả khi Chiến tranh Thế giới thứ III có bùng nổ và mang đến những điều tồi tệ nhất thế gian. Trần nhà, bốn bức tường và mặt sàn của nó được bao phủ bởi những chấm những đường những mép không thể giải mã được. Anh ta đứng một lúc trước bức tranh, không, thực ra là đứng đối diện, giữa bức tranh trước khi anh ta giật mình tỉnh thức và nói, “Thật đáng kinh ngạc. Thật bất khả thi cho một người nghiệp dư để có thể tự sáng tạo ra một thứ gì đó như thế này”.

Cẩn thận phủi sạch lớp bụi và mạng nhện vướng trên vai, người giảng viên trèo lên cầu thang từ tầng hầm, nhưng ngay sau đó anh ta bỗng lao xuống như thể anh ta nhớ ra điều gì đó quan trọng. Anh đi thẳng tới tấm vải đang che phủ toàn bộ tầng hầm, anh đứng gần đến nỗi dường như mũi gần chạm vào tấm vải, và chăm chú ngửi. Rồi anh lắc đầu đầy kinh ngạc và lướt ngón tay dọc theo bề mặt của bức tranh. “Dù cố gắng đến mấy, tôi cũng không thể đoán ra được. Ông ta dùng loại sơn nào? Tôi nghĩ ông ấy phải phối trộn sơn với thứ gì đó đặc biệt…” Trở về xe, vị giảng viên nghiêm túc yêu cầu liên lạc với Kim Sang-ok ngay khi ông ta xuất hiện”. Thực ra, lối vẽ này đang thịnh hành trong thời gian gần đây. Một cái gì khó hiểu, trừu tượng trên một quy mô lớn. Bên cạnh đó chúng ta có thể quảng bá nó như là kiệt tác để đời duy nhất của đời một người thợ khóa già. Chẳng thể tìm được một câu chuyện nào li kì đến vậy!”.

Vị thẩm phán của làng vẫn đứng yên cho đến khi chiếc xe chạy xuống đường và hoàn toàn biến mất khỏi tầm mắt. Rồi anh quay trở lại và lắc cánh cửa nhiều lần để kiểm tra xem cửa hàng đã được khóa cẩn thận chưa. Với vai trò của người đánh chìa khóa, Kim Sang-ok đã sử dụng một chiếc khóa lớn và chắc chắn cho cửa hàng của ông. “Thật là một lão già bẳn tính. Ông ta nên nói với tôi về sở thích mới này của ông ấy. Nhân tiện, ông ấy đã đi đâu vào kì nghỉ? Cho mọi người biết nơi ông ta sẽ đến trước khi cất cánh thì đâu có chết gì, phải không?” Mải suy nghĩ và bận rộn lắc khóa hàng chục lần, anh không nhận ra có một người đàn ông đang nấp đằng sau cột điện thoại gần đó nhìn chằm chằm vào mình. Người lạ mặt không mặc áo khoác, đứng đó với mái tóc rối bời trong bộ quần áo lao động bạc màu, bất chấp cơn gió tháng Hai lạnh lẽo. Anh ta đứng đợi viên thẩm phán của làng rời đi và lặng lẽ bước đến trước cửa hàng. Sau khi chắc mẩm không có ai xung quanh, anh rút thứ gì đó ra khỏi túi và nhìn nó một lúc lâu. Dường như đã quyết định xong, anh đặt tay lên ổ khóa. Khi cảnh cửa mở ra lách cách, người đàn ông đi xuống tầng hầm cứ như thể đã làm việc này nhiều lần trước đó. Anh bật đèn lên để xem bức tranh lớn. “Ối!”. Người đàn ông, sau khi sững lại trước bức tranh một hồi, đổ gục xuống sàn với một tiếng rên lớn, những chiếc bóng xuất hiện phía sau anh ta. Một trong số chúng di chuyển nhanh như chớp và tóm lấy cánh tay của gã đàn ông. Người kia dùng đầu gối đè lên hai cẳng chân của gã. “Đúng như tôi dự đoán! Lũ tội phạm luôn quay trở lại hiện trường tội ác!” Lúc này, hai cánh tay của người lạ mặt đang bị xiết chặt sau lưng, anh ta gào lên trong đau đớn. “Cái gì vậy? Anh là ai? Anh muốn gì ở tôi?” Sau đó người đàn ông đang đè anh bằng đầu gối lột bỏ mặt nạ và hỏi với một giọng nhẹ nhàng, “Điều này có giúp được gì không? Giờ thì anh đã nhận ra tôi chưa?” Cuối cùng, người đàn ông dừng giãy giụa và lẩm bẩm một giọng nói khẽ khọt, “Tại sao, anh… người đưa thư, anh Park”. Nhưng anh ta không thể thốt được lên lời bởi vì họ đã bịt miệng anh bằng băng keo và cột chặt anh vào một chiếc ghế bằng kim loại.

“Chúng ta làm gì bây giờ” tôi hỏi. Vừa cởi găng tay và nhét chúng vào túi sau, Park hét lên, “Còn làm gì nữa? Chúng ta phải bắt hắn thú nhận”.

Khi ông Kim Sang-ok biến mất, tất cả những gì ông để lại là một túi giấy bột có chứa một bản ghi chép và một chiếc khóa gỉ. Bản ghi chép là một kiểu giấy ủy quyền liệt kê những thứ phải hoàn thành theo trật tự thời gian khi ông vắng mặt. Nó thậm chí còn được công chứng, và lạ lùng là, người đưa thư của làng, anh Park, được chỉ định làm đại diện (Vị công chứng viên, người trình bày ngắn gọn trước cảnh sát về sự biến mất của ông Kim Sang-ok rồi cười trừ. “Ông ta nói ông ấy đi nghỉ mát khoảng ba bốn tháng. Ông ta bỏ mặc cửa hiệu của mình một thời gian mà không thể làm khác được vì ông ấy quyết định đi vào phút chót. Hừm, chẳng có gì bất thường ở đây hết. Ông ta trông rất vui mừng… và hạnh phúc”). Lúc đầu, Park kiên quyết từ chối nhận trách nhiệm. “Tất nhiên là tôi không thể chấp nhận nó”. Người đưa thư buông một tiếng thở dài, tỏ vẻ không thể hiểu nổi tại sao ông Kim Sang-ok lại quyết định nhờ mình. “Chúng tôi không đặc biệt thân thiết… Tôi chỉ tình cờ ghé qua cửa hàng của ông ấy mỗi ngày để gửi thư của ông ấy”. Tuy nhiên, bởi vì ông Kim Sang-ok đã đưa ra một yêu cầu khẩn thiết trong bản ghi chép của mình nên anh Park đã nhận lời vào phút chót. “Dù sao thì, tôi đã có một thời gian khá khó khăn để thực hiện mọi việc được đề ra trong danh sách. Người đàn ông đó đã ghi ra mọi tiểu tiết cần làm”. Thực vậy, bản ghi nhớ được soạn thảo một cách tỉ mỉ về mọi chi tiết vận hành cửa hiệu sửa chữa khóa. Số tiền được thanh toán từ một vài cửa hàng mà ông Kim Sang-ok đã hoàn thành công việc trước đó, chúng được xếp chồng lên nhau trong ngắn kéo và buộc lại gọn gàng thành các bọc bằng dây nhựa. “Ông ấy để lại một số tiền chuẩn xác. À, ông ấy luôn luôn là người có óc tính toán”. Người đưa thư tiếp tục đưa ra những ví dụ về sự tính toán chính xác của ông Kim Sang-ok. Sống trong ngôi làng nhỏ, ông Kim Sang-ok cảm thấy khó khăn khi phải đi đến đại lý bưu chính, và vì vậy ông đã yêu cầu anh Park ghé qua bất cứ khi nào ông có một bưu kiện nhỏ hoặc một lá thư để gửi. Hầu hết dân làng đều làm vậy, nhưng ông Kim Sang-ok là người duy nhất mà người đưa thư không phải chuẩn bị tiền lẻ để trả lại. “Ông ấy không bao giờ đưa tôi thừa thiếu dù chỉ một xu. Dù chỉ là một lần”. Sự chuẩn xác của ông Kim Sang-ok đã để lại một ấn tượng tốt đối với người đưa thư. “Hầu hết mọi người thường giữ lại tiền lẻ khi dù chỉ là một vài đồng xu. Tôi không thể nhớ chính xác số tiền mỗi lần vì tôi cứ mặc kệ mọi thứ thôi. Anh có thể tưởng tượng ông Kim đã ảnh hưởng đến tôi như thế nào về việc không bao giờ được cẩu thả với sự tính toán của mình, phải không?” Người đưa thư nói thêm rằng đó là lý do lớn nhất giải thích tại sao ông chấp nhận yêu cầu của ông Kim Sang-ok.

Nhờ bản báo cáo của công chứng viên mà sự biến mất của ông Kim Sang-ok không được xem là một trường hợp nghiêm trọng – lý do là bởi vì tất cả những người đàn ông như ông Kim Sang-ok đều thường xuyên xuất hiện trong làng và sau đó lại biến mất vào một ngày bất kỳ. Họ đột ngột di chuyển đến những miền quê, sống trong những ngôi nhà hoang được sửa chữa tạm bợ, ở đó một thời gian rồi lại lặng lẽ rời đi.

Vì vậy, mặc dù trường hợp của ông Kim Sang-ok khá đặc biệt (các đây vài năm, ông đã mua một cửa hàng nhỏ gần cổng làng, bỏ ra một thời gian dài để cải tạo nó, và mở cửa tự kinh doanh. Địa điểm xây dựng được bao quanh bởi những bức tường cao, và chúng vẫn đứng vững sau khi việc xây dựng hoàn tất). Không có người dân nào quan tâm đến sự biến mất của ông. Nếu ông ấy thực sự có kỳ nghỉ như công chứng viên nói, thì ông ta sẽ trở về đúng thời gian, hoặc nếu ông bỏ tất cả lại đằng sau, thì hẳn ông ta phải có lý do riêng của mình. Cũng chẳng có ai ngạc nhiên khi người đưa thư đến thăm cửa hiệu của ông Kim Sang-ok vào mỗi chủ nhật để xử lý nhiều công việc khác nhau. Chỉ có vài gã đàn ông lớn tuổi trong làng nhìn lén lút vào cửa trong khi đi ngang qua. “Một buổi chiều nọ, trong khi đang nghỉ ngơi bên trong cửa hàng sửa chữa khóa không người”, anh Park sực nhớ đến căn phòng nhỏ phía sau, “lúc đầu, tôi không nghĩ nhiều về nó, chỉ là một chút tò mò thôi.” Với đủ mọi dụng cụ và hộp các tông được chất đống khắp nơi, căn phòng trông thật chật chội và bừa bộn. “Ồ phiền phức quá. Tôi thực sự bị sự gọn gàng ám ảnh”. Như Park nói, anh không có nhiệm vụ phải lau dọn căn phòng đó. Tuy nhiên, như có một ma lực không thể giải thích, anh bắt đầu sắp xếp lại các dụng cụ và các thùng các tông cho ngăn nắp. Khi đã vượt qua cảm giác kỳ lạ này, anh vội vàng lao ra khỏi cửa hàng và sau đó nhìn ngắm kỹ lại cửa hàng. Anh gật đầu: “Tôi là người chú ý đến từng chi tiết vậy nên tôi đã chú ý đến nó ngay từ đầu”. Xem xét toàn thể tòa nhà từ bên ngoài, người đưa thư nhận thấy căn phòng nhỏ kia đang bị thiếu mất một mét chiều rộng. Park quay trở lại bên trong ngôi nhà và cẩn thận kiểm tra từng góc một.

Dựa vào bức tường là chiếc giá sách cũ kĩ thứ khiến cho căn phòng trở nên hẹp hơn so với toàn bộ căn nhà, và trong khoảnh khắc tiếp theo một kí ức nào đó vụt lóe lên trong tâm trí anh ta. “Có một lần trước đây, ông ta đã yêu cầu tôi ghé qua để lấy một chiếc thư được gửi bảo đảm nhưng khi tôi đến, tiệm chẳng có ai hết. Tôi đã gọi cho ông ta vài lần nhưng vô ích. Sau đó tôi mở cửa phòng để tìm ông Kim Sang-ok thì thấy ông đang đẩy chiếc giá sách về phía bức tường. Tôi giúp ông một tay nhưng ông từ chối thẳng thừng và thậm chí trông còn khá bối rối. Sau đó, ông bước ra khỏi phòng, tôi có thể nhìn thấy một lớp mạng nhện dày bám trên vai ông. Ông đưa cho tôi một chiếc phong bì và yêu cầu chuyển phát nhanh. Một tay cầm chiếc phong bì, một tay tôi với ra để gỡ mạng nhện trên vai ông, nhưng tôi thật không ngờ, ông ấy lùi lại một bước đầy hoảng hốt. Dù sao đi nữa, ngày hôm đó, tôi thấy có điều gì đó bất thường về ông Kim Sang-ok. Ông ta dường như có vẻ hơi u ám – mặc dù chưa bao giờ ông ấy thực sự là một người vui vẻ – và cái phong bì mà ông đưa cho tôi thậm chí còn chưa được niêm phong đúng cách. Thành thật mà nói, nếu tôi không đọc lá thư bên trong, có lẽ tôi đã chẳng bị cuốn hút vào công việc kinh doanh kỳ lạ này. Ồ, xin đừng hiểu lầm tôi. Tôi chắc chắc không phải là loại người lượn lờ vòng quanh để đọc thư người khác. Sự việc này chỉ xảy ra khi tôi quay trở lại đại lý bưu điện ngày hôm đó, tôi nhận ra thư của ông Kim Sang-ok đã được niêm phong cẩn thận. Khoảnh khắc tôi nhặt phong thư để niêm phong nó bằng băng kính tôi, lá thư đã tự rớt xuống. Dù sao, tôi sẽ giải thích chi tiết về điều này sau. Hãy để tôi nói nốt những gì tôi đã nói dở dang từ đầu”. Anh Park hồi tưởng lại ngày hôm đó, và nhẹ nhàng đẩy giá sách sang một bên.

Lần đầu tiên ông làm việc này, chiếc tủ sách sau khi được đẩy qua một bên, để lộ ta một cánh cửa gỗ. “Tôi xoay núm cửa nhưng nó đã bị khóa. Nhưng rồi một cái gì đó đến trong đầu tôi. Ý tôi là chiếc chìa khóa gỉ sét được để lại cùng với thư ủy nhiệm”. Người đưa thư móc vào túi của anh ta rồi tìm chiếc chìa khóa. Khi anh ta đút nó vào trong chiếc lỗ bên dưới tay cầm, chiếc cửa dần dần hé mở như một phép thuật. Ở phía bên kia cánh cửa, bao trùm ô cửa bí mất là một màu tối đen như mực tựa như bên trong một hang động rộng lớn và những luồng gió mát mẻ nhưng ẩm ướt thổi từ tầng hầm. Mười phút đã trôi qua trước khi anh ta rời chỗ của mình ngay lối vào và bắt đầu thận trọng đi xuống. Dựa vào ánh sáng lập lòe từ chiếc bật lửa của anh, anh bước xuống chiếc cầu thang sâu hun hút, cho đến khi đột nhiên anh thấy mình đang ở trong một không gian rộng, kỳ bí. Anh loay hoay tìm công tắc đèn trên tường và bật nó lên. Khoảnh khắc tiếp theo đột ngột thốt ra một tiếng rên sững sờ. “Tôi thực sự hoảng sợ. Có lẽ bởi vì ngọn lửa của chiếc bật lửa cứ đung đưa khiến cho các chấm, các đường kẻ và các mép trên khắp sàn nhà, tường và trần nhà trông như chúng đang di chuyển dữ dội”. Anh vội vã leo lên cầu thang. “Lúc đầu tôi không nói gì về tầng hầm, ông Kim Sang-ok có lẽ đã cố gắng hết sức để không cho ai biết về tầng hầm, phải không? Tuy nhiên, những ngày vừa qua, tôi đã tin rằng tôi nên để ai đó biết về nó”. Cuối cùng, người đàn ông trở lại tầng hầm cùng với thẩm phán, và phần còn lại của câu chuyện đã diễn ra trước đó mà anh không cần thiết phải kể lại.

Nói gấp gá rồi thở hổn hển, anh Park dừng lại bất ngờ và cầm lấy cái cốc bên cạnh anh để uống nước. “Nhân tiện, tại sao anh lại có ý nghĩ vậy? Động cơ của anh là gì?” tôi đã hỏi, cố ngăn lại cơn ngáp đang ập đến. Anh Park ngay lập tức hạ giọng và nhìn quanh. “Ừ… câu chuyện thực sự bắt đầu ngay bây giờ. Xin hãy lắng nghe cẩn thận”. Tôi buông một tiếng thở dài ngao ngán. Tôi đã nhiều lần chú ý về gã đàn ông trung niên đưa thư gàn dở lập dị này.  Đôi mắt anh ta có một tia sáng lờ mờ, và có lẽ vì anh ta đã dành cả một thập kỷ để đưa thư vòng quanh một nơi nên anh ta đã bị chứng ảo giác kỳ lạ và bệnh hoang tưởng. Chí ít đó là những gì anh ấy đang thể hiện trước mặt tôi. Anh ta khẳng định lão thợ khóa đã để lại một giấy ủy quyền hợp pháp trước khi đi nghỉ mát, nhưng thực ra lão ấy đã bị sát hại. Không chỉ vậy, anh ta còn tin rằng thi thể của ông già đã bị máy nghiền cỏ nghiền nát và bị cuốn trôi đi qua những ống thoát nước. Vâng, có lẽ tôi là nguyên nhân của tất cả vấn đề. Xét cho cùng, trong quá khứ tôi đã phô trương mình một cách không cần thiết khi kể những câu chuyện dối trá hết lần này đến lần khác. Cách đây vài tháng, tôi gặp anh Park lần đầu tiên. Chuông báo động ở đại lý bưu chính bị hỏng hóc, vì vậy tôi đã lao đến hệ thống chuông, sửa chữa cái chuông đang phát ra những âm thanh inh ỏi, và khởi động lại hệ thống. Khi tôi đứng dậy, một người đưa thư với nụ cười rạng rỡ trên khuôn mặt tiến lại chỗ tôi. Anh ta mời tôi uống rượu mặc dù tôi nói rằng tôi không muốn uống và hỏi tôi nhiều câu hỏi về công việc của tôi. Sau đó, anh ta dừng lại trong giấy lát và ném một ánh nhìn ghen tỵ vào thắt lưng của tôi, “Đó có phải là một chiếc khẩu súng hơi không? Anh đã bao giờ phải sử dụng nó chưa?”. Cái nhìn đầy ngưỡng mộ của anh ta quá rõ ràng đến nỗi tôi đã kết thúc câu chuyện bằng cách bịa ra một câu chuyện anh hùng về bản thân mình. “Tôi làm việc cho một công ty bảo mật, anh buộc phải va chạm với đủ hạng người. Anhkhông nghe về tất cả bọn họ trên ti vi hay trên báo chí, nhưng thế giới này đầy rẫy những kẻ xấu xa. Chỉ một ngày kia, tôi đã tay không đánh nốc ao hai tên trộm trong ngôi nhà của một ông lão. Chắc chắn đó là một công việc nguy nhiểm, nhưng vào những lúc thế này, tôi cảm thấy thực sự tự hào về bản thân mình”. Tôi cười thầm đầy tự tin. Thế rồi vài ngày sau đó, anh Park gọi cho tôi và khăng khăng rằng tôi phải gặp ông ấy ngay lập tức. Người đưa thư đến văn phòng tôi sau khi trời tối, anh siết chặt hai bàn tay mình đầy vẻ hối lỗi. “Tôi không thể nghĩ về một ai đó thích hợp hơn cho công việc này. Anh đã nói với tôi trước đó rằng anh đã tay không hạ đo ván tên cướp được trang bị vũ khí. Đó là lý do tại sao tôi phải khẩn thiết yêu cầu anh đi với tôi đến đâu đó”. Tôi không thể thú nhận rằng tôi đã nói rồi về thói anh hùng giả dối của mình. Trên tất cả, tôi đã không có đủ can đảm để đưa người đưa thư trở về sau một cuộc hành trình dài đến vậy. Vì vậy, tôi lúng túng ngồi xuống, nhưng khi thời gian trôi đi, tôi càng ngày càng hối hận. Câu chuyện của anh Park quá phi lý, mâu thuẫn và đầy rẫy những tuyên bố vô căn cứ từ đầu chí cuối. Thỉnh thoảng, anh ta còn đi chệch khỏi câu chuyện hoặc ra ngoài ngắm nhìn lên bầu trời cao, khiến tôi gần như phát điên. Tuy nhiên, tôi nhanh chóng đổi ý và mỉm cười với anh ta một cách hiền từ. Xét cho cùng, anh Park là một trong những khách hàng của chúng tôi. “Ồ, vậy nên câu chuyện mới thực sự bắt đầu ngay bây giờ. Xin vui lòng kể hết cho tôi phần còn lại. Tôi thực sự tò mò, anh thấy đấy”. Từ chỗ đang ngồi, anh Park ngả về phía trước, tất cả đều sẵn dàng để lắng nghe. Bên trong thâm tâm, tôi lại tiếp tục buông một tiếng thở dài sườn sượt, và sau đó tôi co duỗi chân phải đã bị tê từ trước.

Khoảng một tuần sau khi phát hiện ra bức tranh, anh Park đang lê bước tiến về phía trạm xe bus gần cổng làng trên đường đi làm về nhà. Trời đang tối dần sau hoàng hôn nhá nhem, và chỉ có thể nghe thấy âm thanh của tiếng lá rơi xào xạc trong gió. Anh bắt gặp một cái bóng chợt đang vụt qua từ cửa hiệu sửa khóa. “Lúc đầu, tôi nghĩ ông Kim Sang-ok có thể quay lại. Nhưng sau đó tôi nhìn kĩ hơn và nhận ra không phải như vậy. Mặc dù trời khá tối nhưng tôi vẫn có thể nhận biết được đó là tầm vóc của một người đàn ông khác, không phải ông Kim. Vả lại, một ông lão gần 90 tuổi chẳng thể di chuyển nhanh nhẹn đến vậy. “Sau một hồi do dự, anh Park nhớ nhiệm vụ chính của mình như là đại lý của ông Kim Sang-ok và anh quyết định điều tra kĩ hơn dù cho có hoảng sợ thế nào. Anh nhón chân lặng lẽ đến cửa hàng và ngạc nhiên khi thấy cánh cửa mở khóa. Đúng như dự đoán, cánh cửa tầng hầm được mở một nửa, và anh có thể nghe thấy tiếng chân ai đó đang di chuyển xuống tầng hầm. Anh Park nhìn từ trên đỉnh cầu thang và thấy một người đàn ông với mái tóc đen rậm rạp trong bộ quần áo tồi tàn đang bước qua lại. Dường như đang nặng trĩu những lo lắng, người lạ giật bứt tóc tai của y trước bức tranh và thậm chí còn nằm trên sàn nhà và thở dài thườn thượt. Lúc đó, anh Park bị chuột rút ở chân vì ngồi xổm quá lâu. Cơn đau làm cho chân anh co giật, khiến tấm ván gỗ của cầu thang rung lên to hơn. Người đàn ông trong tầng hầm thất thần nhìn lên. “Ai vậy? Ai trên đó thế?” Người lạ mặt đứng yên một lúc trước khi bước chậm rãi về phía cầu thang. Anh Park, dù trái tim đang như muốn nhảy ra khỏi lồng ngực, vẫn cố gắng giữ bình tĩnh. “Thậm chí sau đó, tôi có một cảm giác kỳ lạ. Giọng điệu của hắn ta nghe rất quen”. Thực vậy, người đưa thư sau đó nhớ ra người có giọng nói này, nhưng ngay lúc này anh ta lại không thể nhớ ngay ra được. Mục tiêu duy nhất của anh là ẩn nấp ở đây. Anh cúi xuống hết mức có thể và giấu mình trong không gian hẹp đằng sau cánh cửa. Ở dưới cầu thang, người lạ đảo mắt nhìn quanh và tắt đèn. Sau đó anh ta vội vã leo lên cầu thang và biến mất đi đâu đó. Ngay cả sau khi anh ta rời đi, anh Park đã đợi rất lâu trước khi lẻn ra khỏi chỗ trốn. Người đàn ông ấy là ai? Tại sao anh ta có chìa khóa để xuống căn hầm? Theo như người đưa thư cho biết, ông Kim Sang-ok không gia đình không bạn bè thân thiết. Vậy tại sao ông ta lại để công việc kinh doanh này lại cho người đưa thư chỉ bởi vì anh ta ghé qua mỗi ngày? Trong khi đi vòng quanh tầng hầm, anh Park phát hiện ra một mảnh giấy nhỏ hình chữ nhật trên sàn. Tôi nhặt nó lên và nhìn, đó là một tấm danh thiếp. Dĩ nhiên, tôi không nghĩ nhiều về nó lúc đầu. Tôi nhét nó vào túi nghĩ rằng sẽ ném nó đi sau… nhưng tôi phát hiện ra một cái gì đó khác đã cho tôi một ý tưởng mới”. Người đưa thư móc vào túi và lấy ra một túi nhựa được niêm phong chắc chắn. “Chúa ơi, chỉ cầm cái thứ này thôi cũng thấy thật đáng sợ” (Nghĩ lại lúc đó, tay anh run run cầm cái túi nhựa). “Dù sao thì, khi tôi tìm thấy cái này, tôi nhận ra ông Kim Sang-ok đã chết thật rồi. Và tôi đã nhớ ra người đàn ông ở trong tầng hầm”.

“Hừm… cái gì thế? Tôi thực sự không thể nói được”. Anh Park đưa chiếc đèn pin lại gần. “Nhìn thật kỹ. Hóa ra đó là một móng tay người”. Chiếc túi chỉ chứa một miếng nhựa màu đen. Những gì anh Park tiếp tục nói thậm chí còn ngớ ngẩn hơn. Anh ta chắc chắn nó là móng tay cái bên phải của lão thợ khóa đang mất tích. Anh không thể nhầm lẫn vì anh chắc chắn rằng móng tay cái bên phải đó mang những đặc điểm thể chất riêng của ông thợ khóa. “Anh thấy đấy, có một màu đen ở giữa. Đây thực sự là một manh mối. Tôi đã nhận ra móng tay này là của ai. Làm sao tôi có thể quên được tôi đã quan sát rất gần mỗi lần ông Kim đưa cho tôi thư đảm bảo? Có một lần tôi đã hỏi ông về cái mong tay của ông. Nó đã bị kẹp vào cửa hay cái gì. Tôi vẫn còn nhớ lão già đó mỉm cười như thế nào và trả lời tôi rằng ông ấy đã luôn có cái điểm đen trên móng tay. Dù sao đi nữa, khi tôi tìm thấy cái móng tay đó, tôi đã ngay lập tức nhận ra ông Kim đã không thực sự đi nghỉ mát. Hãy suy nghĩ về việc này đi. Chẳng phải lạ lùng sao khi lão thợ khóa lại đột ngột đi nghỉ mát như thế? Phải rồi. Ông ấy đã chết. Ông ấy bị sát hại, và theo cách khủng khiếp nhất có thể có. Lão già đó đã bị nghiền trong một chiếc máy xay và biến thành một cục thịt. Ai là kẻ gây ra chuyện này? Đó là anh ta, dĩ nhiên rồi. Đó là tên họa sĩ người đã đánh cắp bức họa trong tầng hầm. Bọn sát nhân thì luôn quay lại hiện trường tội phạm, phải không? Nó không hề hay biết tôi đã nấp ở một góc trên cầu thang và quan sát nó. Thêm vào đó, mặc dù nó đã thủ tiêu cái xác – bằng chứng về tội ác của hắn nhưng hắn không bao giờ có thể ngờ được một chiếc móng tay đã bị rớt lại trên sàn. Ừ phải rồi, có phải tôi đã nói đến? Chiếc móng tay đó giúp tôi hiểu được tầm quan trọng của danh thiếp mà tôi đã nhặt chỉ vài phút trước đó. Danh thiếp có ghi tên và số của một công ty cho thuê máy xay thức ăn. Rồi tôi nhận ra giọng nói của người mà tôi đã nghe ở tầng hầm. Tất nhiên rồi! Giọng nói đó là của tên họa sĩ sát nhân. Thật ngược đời hết sức khi mọi người lầm tưởng anh ta như một thiên tài thất bại nhưng tôi biết hắn rõ hơn hết. Hắn là một kẻ tâm thần điên loạn sống trong một ngôi nhà hoang vắng, chẳng biết làm gì hơn ngoài việc vẽ bìa quảng cáo điện ảnh. Anh có thể đoán kiểu bưu kiện mà hắn ta bắt đầu nhận thường xuyên không? Những xác chết của động vật! Một số xác chết thậm chí còn không được đóng gói cẩn thận, vì vậy máu đen rỉ ra ngoài và đôi khi thậm chí còn bốc lên một thứ mùi hăng nồng khiến tôi phát ói. Một ngày nọ, tôi đã hỏi hắn ta về tất cả những xác chết động vật đó là để làm gì. Hắn ta trả lời tôi dứt khoát rằng hắn là một nghệ sĩ tiên phong. Theo hắn, thịt và máu động vật chứa đựng bản chất của cuộc sống thứ mà hắn đang cố gắng để truyền tải bằng cách trộn xác chết động vật với sơn”.

 

***

Park ôm lấy ngực trái, thở hổn hển. Tôi đưa cho anh ly nước bên cạnh mình. Anh nhấp một ngụm rồi duỗi người nghỉ để lấy lại hơi. Rồi anh gãi đầu gãi tai như thể đang xấu hổ. “Tôi… thật lòng xin lỗi. Tôi hơi bị phấn khích quá đà. Chỉ là đột nhiên tôi nhớ lại mình đã hoảng hồn như thế nào sau khi trông thấy mớ máu mê nhầy nhụa đó và kinh hãi tới mất kiểm soát… Dẫu thế nào, cho phép tôi được nhấn mạnh rằng ông Kim Sang-ok đã bị giết rồi. Tên khốn khiếp ấy có lẽ đã không còn chỉ bằng lòng với những xác chết động vật. Hắn đã điên loạn hơn, và nhắm tới việc đưa xác người vào những bức vẽ của mình. Tấm danh thiếp của công ti máy xay thịt mà tôi tìm thấy trên sàn là bằng chứng. Có lẽ anh chưa biết, nhưng chẳng có thứ gì là cái máy ấy không xay thành cám được. Mới gần đây, tôi đã tận mắt chứng kiến một người già trong làng quẳng một con chó phải nặng tới hơn bốn chục kí vào máy xay để làm thức ăn cho gà.) Anh thì nghĩ sao? Anh vẫn không tin tôi ư?”.

Lần túi áo khoác, người đưa thư lôi ra được một mảnh giấy gấp tư nhàu nát. “Đây là bằng chứng cuối cùng. Chắc hẳn anh vẫn còn nhớ chứ? Chuyện về cái ngày tôi kiếm ra được bức thư của ngài Kim Sang-ok và đã đọc toàn bộ nội dung vì nó chưa kịp được niêm phong bảo mật gì cho cam. Giờ thì có gì phải ngạc nhiên đâu. Bức thư đã được gửi tới cho tên họa sĩ. Như tôi nói rồi đấy, nếu như trước đó tôi không trông thấy lá thư, tôi đã chẳng nghi ngờ hắn ta nhiều đến thế. Nhìn bề ngoài, hai người đàn ông này dường như chẳng có điểm chung hay sự kết nối nào. Tôi đã đọc lá thư và nội dung bất thường của nó làm tôi nhớ như in. Thật thế, tôi ước gì lúc đó mình đã photo lại một bản hay tìm cách nào đó sao chép lại, bản này tôi chỉ có thể ghi lại theo trí nhớ của mình.” Mẩu giấy anh chuyển cho tôi ghi vắn tắt vài ý ngắn gọn:

“Cảm ơn rất nhiều vì đã đáp ứng yêu cầu của tôi. Không có sự trợ giúp của anh, tôi đã không thể nào thỏa được niềm ước nguyện suốt đời mình. Với lòng phấn khởi, tôi đã vào trung tâm thành phố cuối tuần rồi. Tôi đã mua cả sơn, vải và cọ vẽ rồi lái xe về nhà. Tôi cất chúng gọn ghẽ dưới tầng hầm. Nhớ ghé cửa hiệu của tôi theo lịch đã thỏa thuận nhé. Tôi sẽ để ngỏ cửa sau, vậy xin hãy gắng kín đáo nhất có thể.

Thật lòng biết ơn. Kim Sang-ok.

P/s: À, thêm nữa là tôi đã đặt máy cho anh rồi, nó sẽ được chuyển tới đúng vào khoảng thời gian anh ghé qua. Đúng theo mô hình anh muốn đặt trước đó. Những người làm thuê ở công ti tự tin đảm bảo rằng với cái máy này, anh có thể xay nát cả những thứ khá lớn”.

Tôi đọc đi đọc lại mẩu giấy hai lần rồi mới đưa lại cho người đưa thư. Chắc chắn có gì dị thường ở đây. Nhưng chỉ nhiêu đó thôi thì không đủ để buộc tội một họa sĩ sống ẩn dật trong một ngôi nhà bỏ hoang là một tên giết người điên loạn. “Bức thư khá kì quái. Nhưng biết đâu đó chính là lí do ông Kim Sang-ok mời tên họa sĩ tới chỗ của mình, có thể lắm chứ. Thử nghĩ mà xem. Với những bức vẽ xếp dưới tầng hầm, tôi chắc chắn ông Kim Sang-ok đang theo học lớp mĩ thuật. Dù vậy, rõ ràng, một chuyên gia thuộc lĩnh vực này đã khẳng định một người vẽ amateur như ông không thể nào cho ra đời được những tác phẩm như vậy. Rất có thể ông Kim Sang-ok muốn chiếm lấy toàn bộ những bức vẽ ấy thành của riêng mình – tôi thấy trên báo người ta viết rằng thời này rất nhiều họa sĩ vẽ dưới tên kẻ khác – và lẻn vào nơi tên họa sĩ sống bằng cửa sau?” Park gật đầu, “Tất nhiên, có thể anh đúng về lí do ông Kim Sang-ok mời tên họa sĩ tới chỗ mình. Nhưng không biết vì lí do gì, một cuộc cãi vã đã nổ ra giữa hai người đó, và tên họa sĩ giết ông ta trong cơn giận dữ. Hoặc (thực ra tôi thấy giả thuyết say này có vẻ thuyết phục hơn), rất có thể tên khốn này trước đó đã lên kế hoạch dùng chính ông Kim Sang-ok đưa vào tác phẩm của y, nên đã tìm cách tiếp cận ông. Hắn đã dẻo mỏ mời mọc ông già đăng kí các lớp học hội họa, rồi giả dối nhờ ông kiếm cho hắn một chiếc máy xay. Cuối cùng hắn giết luôn lão già tội nghiệp rồi biến ông ta thành sơn màu”.

Chính lúc ấy đầu tôi bắt đầu đau như búa bổ. Tôi đoan chắc những lời người đưa thư nói chỉ là mấy chuyện tầm phào vô nghĩa. Nhưng ánh nhìn nghiêm túc trong mắt anh ta khiến tôi không thể cứ thế mà gạt phăng đi, kiểu như: “Anh bị loạn trí mất rồi! Anh nên vào bệnh viện tâm thần mà khám ngay đi!” Khi tôi hỏi anh ta tại sao lại đến đây thay vì đi trình báo cảnh sát, anh lập tức đáp lại: “Liệu họ có tin tôi không? Khi mà bằng chứng duy nhất tôi có chỉ là một cái móng tay tôi bắt được trong tầng hầm, cùng linh cảm của mình?” Tôi hít một hơi dài rồi hỏi thêm một câu chốt hạ: “Thôi được, vậy anh muốn gì từ tôi đây?” Chỉ đợi tới đó, Park reo lên run rẩy: “Chiều mai, xin hãy cùng tôi tới cửa hàng sửa khóa. Chúng ta sẽ đợi ở đó cho tới khi tên họa sĩ lộ bản chất thật là bắt y phải thú nhận tội lỗi của mình!”

***

Không nói một lời, họa sĩ im lặng lắng nghe câu chuyện của chúng tôi. Bị trói chặt trên chiếc ghế kim loại, anh ta hổn hển gần như nghẹt thở. Trông anh ta thảm hại tới nỗi chúng tôi phải nới bớt dây trói cho đỡ chặt, dỡ bớt cả mấy vòng băng keo màu xanh chúng tôi đã quấn chặt phòng khi anh ta vùng thoát. Chăm chú lắng nghe, đôi lúc lại ngước mắt lên nhìn vô định, cuối cùng người họa sĩ chậm rãi trình bày: “Suy luận của anh gần như chuẩn xác rồi đấy. Nói cho chi tiết thì tôi phải thừa nhận là chính xác tới 80%. Vâng, đúng là như thế. Tôi… Tôi đã cho lão già đó vào máy xay. Dù thân thể lão ta già nua và nhỏ thó, tôi vẫn thấy cái nhiệm vụ này thật khó nhằn vô cùng. Đó là lần đầu tiên và cũng là lần cuối cùng tôi phải xử lí một thi thể kiểu đó. Tôi thấy buồn mửa và không phút giây nào ngưng tự hỏi, liệu mình có đang làm một việc đúng đắn hay không. Dẫu vậy, hết lần này tới lần khác, tôi nghiến răng cố kìm mối hoài nghi dữ dội trong mình, từ từ đẩy lão già tội nghiệp vào máy nghiền, trước tiên là cái đầu, theo đúng nguyện vọng của lão mà tôi đã hứa danh dự là sẽ tuân thủ. Thật thế, ước nguyện trước lúc lìa đời của người đã khuất bao giờ cũng đáng được coi trọng” (‘Người đã khuất ư? Anh đang muốn chơi trò gì vậy? Chính anh là kẻ đã giết Kim Sang-ok, không phải ư?’ Người đưa thư hét lên hỏi, gần như mất bình tĩnh. Nhưng họa sĩ vẫn bình thản thầm thì, ‘Nếu các người muốn biết toàn bộ sự thật về cái chết của lão già, trước hết hãy nghe tôi nói. Tôi xin các người!’). Sau đó, tôi gom lại tất cả những mẩu thân thể nát vụn rồi trộn chũng với một loại sơn đặc biệt (Tôi làm thành thạo không thừa không thiếu một mẩu nhỏ… Riêng về vụ ngón tay cái bị sót lại, tôi chỉ có thể lấy làm tiếc cho ông Kim Sang-ok. Theo như tôi biết, ông ta chắc chắn đã phải chịu đau đớn khủng khiếp vì cái móng đó). Nào, gượm đã! Đừng nhìn tôi như thế! Ông Kim Sang-ok đã tự lấy mạng mình. Đó là sự thật. Tôi không giết lão già. Lão đã tự trù liệu mọi việc trước khi lão chết. Bất chấp sự từ chối cương quyết của tôi, hầu như hôm nào lão cũng tìm gặp tôi để van nài xin giúp lão hoàn thành cái ước nguyện tuyệt vọng ấy. Lão cầu xin tôi hãy dùng chính thân thể lão để vẽ một bức tranh. Đúng như người phỏng đoán, bức tranh dưới tầng hầm là của tôi. Suốt một tuần, ăn không ra ăn ngủ không ra ngủ, tôi bị ám ảnh bởi nỗi sợ hãi, trầm cảm, hoảng sợ và những cơn ác mộng. Mọi nỗ lực của tôi chỉ để hoàn thành bức vẽ, để giữ lời với đã chết. Đương nhiên, bản phác thảo là của ông Kim Sang-ok. Lão đưa cho tôi một mẩu giấy đầy những điểm chấm, đường kẻ và góc cạnh lộn xộn chồng chéo lên nhau – lão già gọi đó là “bản thiết kế chi tiết” – và cầu xin tôi hãy tạo ra một bức tranh như thé sau khi lão chết. Các người đang thấy điều này khó tin lắm hả? Chính tôi cũng thế. Tôi phải luôn tự nhắc mình không được khủng hoảng tới mất trí để hoàn thành cho được yêu cầu của ông ta, không biết bao nhiêu lần tôi đã bước chân xuống căn hầm ấy, vờ như không nghe thấy tiếng trống ngực đập thình thình và cố quên đi cảm giác tội lỗi, hối tiếc.” Họa sĩ đột ngột dừng lại và cho tay vào túi áo khoác lục lọi. “Ôi đây rồi. Ông Kim Sang-ok còn để lại cho tôi bản xác nhận bằng tay này phòng khi cần. Nhìn cho rõ nhé. Nó được xác nhận bằng dấu vân tay của ông ấy.” Thậm chí còn ghi lại lời ông già để chuẩn bị cho mọi tình huống, họa sĩ móc từ túi sau ra cái thẻ nhớ USB. Thấy tôi và người đưa thư nhìn, anh ta mỉm cười buồn bã.

“Khi bức tranh được tìm thấy và mọi người cho rằng đó là tác phẩm của ông Kim Sang-ok, tôi thầm hi vọng mọi thứ sẽ được giấu kín sau lớp màn… Tôi nghĩ sau tất cả, mình vẫn là người vô tội. Nhưng các người biết không? Còn một kẻ khác đứng sau tất cả những sự việc này. Lẽ ra các anh nên tìm tới anh ta đầu tiên, thay vì tôi. Nếu như anh ta không đứng ta bảo đảm, tôi đã không bao giờ nhận lời với lão già. Vậy sao hai người không đến tìm hắn đi đã chứ? Vẫn chưa muộn để các anh đưa ra kết luận cuối cùng về vụ này cơ mà. Nếu nghe được thêm câu chuyện của anh ta, các người sẽ hiểu vì sao ông Kim Sang-ok lại có một lựa chọn khốc liệt như vậy… Và nó sẽ giúp các anh quyết định xem nên đưa tôi ra cảnh sát hay nên lờ đi tất cả những gì các anh đã phát hiện ra hôm nay.” Khi họa sĩ chốt lại lời kể của mình rồi nhắm mắt, tựa lưng vào ghế, tôi rơi vào sự bối rối cực độ. Tôi cảm thấy mình dường như vừa chui ra khỏi chảo dầu chỉ để tiếp tục lao vào ngọn lửa. Mới đây, khi giúp Park trói chặt người họa sĩ vào ghế, tôi đã đinh ninh rằng mọi thứ sẽ sớm được giải quyết ngay sau đó. Nhưng với cái cách mọi tình tiết cứ đua nhau xuất hiện thêm thế này, đầu óc tôi gần như không thể bao quát nổi sự việc nữa. Họa sĩ, người tôi từng hi vọng sẽ tỏ ra ngây thơ vô tội để xác nhận những suy luận điên rồ của người đưa thư, lại vừa cung cấp một câu chuyện dị thường hết mức. Tới lúc này, Park trông cũng ngẩn ngơ như thể tâm trí bay đâu mất, và tôi thì chưa quyết định nổi xem nên làm gì tiếp theo. Đúng khi ấy, họa sĩ lặng lẽ giơ tay ra hiệu vẫy tôi lại gần rồi dúi vào tay tôi một mẩu ghi chú. “Tôi nghĩ có lẽ tố nhất nên trao nó cho người trẻ hơn ở đây. Anh hãy cầm lấy. Đây là địa chỉ của y-người có ảnh hưởng lớn nhất tới quyết định của lão già. Hai chúng tôi (anh ta chỉ vào người đưa thư đang đứng cạnh) sẽ cũng đợi anh ở đây. Cũng đâu có xa xôi gì.” Không chút cảnh giác, tôi cầm lấy mẩu giấy và nhìn sang ông Park, ông ta gật đầu ra hiệu và nói tôi hãy nhanh chân lên. Mẩu giấy chỉ ghi đúng một dòng, “Đường 405, Điện tử Si Gong.” Tôi cho nó vào túi áo khoác và bắt đầu bước lên bậc thang trong khi người họa sĩ hét lên phía sau: “Có vài thứ cậu cần mang theo đấy. Mở ngăn kéo thứ hai phía sau quầy hàng và cậu sẽ thấy một cuốn sách. Đó chính là khởi đầu của tất cả những chuyện này đấy. Lão già tội nghiệp đọc nó suốt ngày đêm trước khi đưa ra quyết định. Hãy nhớ mang theo bên mình. Người mà cậu sắp gặp giờ đây không thể tách rời khỏi cuốn sách đó. Có thể nói cuốn sách thế nào thì anh ta thế ấy.” Tôi mở ngăn kéo. Đúng thực có một cuốn sách trong đó. Trên bìa in hình một vũ trụ ở bên trong một vũ trụ khác, lồng bên trong vũ trụ ấy lại là những vụ trụ khác nhỏ hơn, và nhan đề cuốn sách là “Vũ trụ toàn ảnh: Hướng dẫn thực hành” được in đậm bằng chữ đen cỡ nhỏ. Khi đã bước ra ngoài và hít thở không khí mát lạnh, tôi chợt nghĩ có thể tất cả những gì mình vừa chứng kiến dưới căn hầm chỉ là một giấc mơ hay một trò bịp bợm. Nhưng sức nặng của cuốn sách trì lấy cánh tay là bằng chứng rằng mọi chuyện mới xảy ra không phải chỉ do trí tưởng tượng quá đà của riêng tôi. Tôi đi ra đến trucjk đường chính và ngước mắt tìm. Biển chỉ đường màu xanh lá có mũi tên chỉ rõ tuyến hướng về “Đường 405”.

***

“Thế có nghĩa… anh nói rằng mình là một nhà vật lý?”

Người chủ cửa hàng điện tử cười cay đắng. “Nói cho chính xác thì, trước kia, tôi đã rừng là một nhà vật lý.” Ông từ từ đứng dậy và biến mất vào bóng tối bên trong cửa hàng. Đến khi quay trở lại sau một hồi lâu, trên tay ông cầm một cuộn tư liệu cũ nát. “Anh đã bao giờ nghe nói tới Yoichiro Nambu chưa?” ông hỏi. Tôi lắc đầu. Một nụ cười nhợt nhạt thoáng qua trên gương mặt như thể ông biết chắc mình đang trù liệu điều gì. Ông mở dây buộc ra trước mắt tôi. Trong đó có một bài báo được cắt lại phải đến từ hơn 20 năm về trước, trên còn ghi rõ ngày 25 tháng 9 năm 2008. Bên dưới bức hình một quý ông tóc muối tiêu, là dòng chữ “Yochiro Nambu đoạt giải Nobel Vật lý.” “Nào, giờ thì anh chắc hẳn đã tin nếu tôi nói trước kia tôi từng làm trợ lí cho ông ấy. Một trong những vị cha đẻ của lí thuyết dây, Giáo sư Yoichiro đánh giá các ý tưởng của tôi cao hơn bất cứ ai khác. Nhưng… sau khi ông mất hồi năm 2015, tôi cũng đã rút chân khỏi giới học thuật. Những lí thuyết căn bản của tôi chỉ nhận lại được sự khinh miệt của mọi người. Họ chế nhạo tôi và hạ thấp tôi thành một nhà huyền học, một kẻ điên, hay thậm chí một nhà viết tiểu thuyết viễn tưởng hạng ba. Thực thế, họ nhất trí với nhau rằng vũ trụ có thể được nhìn như một hình ảnh ba chiều khổng lồ – và điều đó đã thực sự được chứng minh – nhưng không chấp nhận quan điểm của tôi về việc con người cũng có thể kiến tạo một vũ trụ toàn ảnh như thế nếu chúng ta đặt tâm trí của mình trong nó. Cuối cùng, tôi rời thành phố và về an dưỡng tại vùng nông thôn. Tôi lên kế hoạch sáng tạo ra một cái gì đó có thể xác nhận lí thuyết của tôi là đúng, và cũng để tôi có thể quay trở lại giới học thuật trong danh dự. Trực giác mách bảo lí thuyết của tôi cực kì hoàn hảo, nhưng khi chứng minh nó bằng toán học, phương trình liên tục cho ra những đáp án chết”.

Ông chủ cửa hàng điện tử, không, nhà vật lí, lại đứng lên khỏi ghế lần nữa và mang tới một tờ giấy thô cùng một cây bút. Trông ông như thể đang sắp sửa vẽ sơ đồ để giúp tôi hiểu hơn những gì ông nói. “Đây là một vòng tròn. Nhưng đừng nghĩ nó là một vòng tròn, hãy hình dung nó là khối cầu, và khối cầu này chính là vũ trụ của chúng ta. Đúng thế, đây chính là cách lí thuyết vũ trụ toàn ảnh vận hành. Tất cả chúng ta – anh, tôi, ngài Kim Sang-ok quá cố, họa sĩ, người đưa thư tất cả đều bị mắc kẹt trong tầng hầm – và mọi thứ – ngôi làng nông thôn ảm đạm này, mặt đất này, các đại dương, mặt trăng, và những ngôi sao trên bầu trời – thực chất đều là những khối toàn ảnh mà bên trong chúng là những dự phóng của thông tin hai chiều được ghi khắc trên bề mặt vũ trụ hình cầu. Ôi anh bạn ơi, tôi biết anh không tin tôi. Anh đang sờ nắn chân tay mình mà trên mặt đầy rẫy nỗi hoài nghi. Nhưng kể cả điều đó cũng không làm thay đổi được sự thật. Ngay từ kết cấu vũ trụ đã là một khối toàn ảnh ba chiều. Mà thôi, tôi cho rằng cũng chẳng nhất thiết bắt anh phải tin vào lí thuyết này về vũ trụ làm gì. Sau tất cả, sự thật không nằm sẵn ở đó để chúng ta tin hay hiểu. Đơn giản là thế giới là như vậy. Dẫu vậy, vẫn có một điều có thể chắc chắn được. Dựa trên thành công của thí nghiệm về va chạm tương đối i-on nặng (Cái quái gì thế nhỉ? Vâng, ngay cả giờ tôi có giải thích anh thêm cũng không thể nào hiểu nổi, nói chung anh chỉ cần biết có tồn tại một thứ như thế), đến năm 2018, lí thuyết vũ trụ toàn ảnh trở thành một ‘chân lý’. Điều ấy đồng nghĩa với việc không thể giải thích vũ trụ nếu không dựa vào lí thuyết toàn ảnh. Tôi đã đẩy thêm một bước và tiến tới tới một ý tưởng khác. Nếu chúng ta tạo một không gian khép kín và ghi thông tin lên bề mặt của nó, rất có thể chúng ta sẽ tạo ra được một vũ trụ toàn ảnh quy mô nhỏ.”

Chỉ lên bản sao cuốn “Vũ trụ toàn ảnh: Hướng dẫn thực hành” trên bàn, tôi hỏi: “Vậy cuốn sách này giải thích lí thuyết đó phải không?” “Đúng thế đấy! Trong đó có phần tổng hợp lí thuyết và phương pháp cần thiết để có thể tạo dựng một vũ trụ toàn ảnh nhân tạo. Không phủ nhận, đó mới là tất cả những gì tôi mượng tượng trong đầu. Nhưng sau khi Giáo sư Yoichiro qua đời, tôi chuyển về đây và tập trung nghiên cứu ngày một sâu hơn, cuối cùng cũng tạo được hình hài cho những hình dung ban đầu đó và biến nó thành lí thuyết. Tôi đã xây dựng một số giả thuyết và tìm được cách chứng minh nó một cách triệt để, tôi tin rằng độ chính xác trong lí thuyết của tôi rồi sẽ được công nhận. Tuy nhiên, còn một vướng mắc vẫn chưa giải quyết được. Như tôi vừa đề cập đến đấy, mỗi khi tôi cố gắng dùng toán học để chứng minh, phương trình lại cho ra những đáp án chết. Tôi đã điên cuồng lao thân vào giải quyết vấn đề. Hầu như đến quên ăn quên ngủ… Chẳng mấy chốc mà cả mặt tôi râu ria xồm xoàm tự lúc nào. Một đêm, tôi bước ra vườn để hưởng chút không khí trong lành. Khi di chân giụi đầu thuốc lá, tôi bất thần ngước nhìn bầu trời đêm. Gió đêm ấy thật là lạnh thấu da thấu thịt, và không một ngôi sao nào xuất hiện trên nền trời u ám dày đặc mây đen. Tôi chìm đắm vào suy tưởng. Trời tối đen như mực nhưng chắc chắn vẫn luôn có những vì sao nằm đâu đó phía bên kia bóng tối. Việc bạn không nhìn thấy không có nghĩa là nó không có ở đó. Những chiêm nghiệm này đến với tâm trí tôi đúng vào khoảnh khắc tôi chờ đợi nhất!”

“Ý ông là sao… Khoảnh khắc ư?”

“Thật là một cơn đốn ngộ. Đó là khoảnh khắc vinh quang khi những nơ-ron thần kinh trong não liên kết với nhau trong sự hợp nhất cao độ và trả cho bạn đáp án. Tôi nhận ra rằng nếu một ngày chúng ta tạo ra được vũ trụ toàn ảnh nhân tạo, sẽ là không đủ nếu chỉ ghi thông tin lên bề mặt của nó. Với một vũ trụ toàn ảnh thực thụ, các hạt phân tử mới thực vô cùng thiết yếu! Công bằng mà nói, đó là sự thật rõ ràng. Ngay cả khi chính bản thân chúng ta, ngôi làng này, và toàn thể thế giới này đều là hình ảnh ba chiều, thông tin trên đường biên của một vũ trụ xa xôi nào đó cũng vẫn phải bao chứa các hạt phân tử. Bởi chúng ta cũng chỉ là những cái bóng của các hạt thực tế ấy ánh xạ từ bên trong vũ trụ. Nguyên tắc tương tự, theo đó, cũng phải được áp dụng để kiến tạo vũ trụ toàn ảnh nhân tạo. Nói đơn giản, nếu bạn muốn tạo ra được một vũ trụ toàn ảnh quy mô nhỏ và sống trong nó, bạn phải tự biến bản thân thành dạng thông tin hai chiều để có thể được lưu trữ trên bề mặt của nó.” Tôi chăm chú nhìn nhà vật lí. “Chà, thú thực thì, tôi không có ham muốn được đến và sống trong một vũ trụ toàn ảnh đâu. Thêm nữa là, từ nãy tới giờ tôi chẳng để tâm mấy những điều ông nói đâu.” Chủ cửa hàng điện tử đáp lại tôi bằng nụ cười ngoác tận mang tai. “Anh không hiểu cũng là chuyện đương nhiên thôi. Ngay cả các nhà khoa học cũng còn chưa thông hiểu được lập luận của tôi cơ mà. Dù sao, cho phép tôi được giúp cậu thấy dễ hiểu hơn phần nào. Về cơ bản, anh sẽ phải tán rời chính mình ra thành những phân tử nhỏ nhất có thể, rồi sơn chúng lên một tờ giấy hay tấm vải vẽ được sử dụng làm bề mặt cho vũ trụ toàn ảnh nhân tạo.”

Tôi đứng phắt dậy. Dù không hiểu nổi từng chi tiết trong lập luận của nhà vật lí, tôi đã thu được ý tưởng chung về điều ông ta đang ngụ ý. “Hượm chút. Ông vừa nói gì? Đó là những gì cuốn sách viết về ư? Vậy nghĩa là ông Kim Sang-ok đã đưa ra quyết định sau khi đọc cuốn sách này?” Nhà vật lí học không trả lời. Thay vào đó, ông ta uống cạn cốc vitamin trước mặt, thở một hơi dài rồi lún sâu người trong chiếc ghế bành. “Trước tiên, tôi xin phép được kể nốt câu chuyện của mình. Phải rồi, đúng thế. Đêm đó tôi đã tìm ra phương thức cụ thể để kiến tạo một vũ trụ toàn ảnh nhân tạo. Tôi sung sướng đến phát điên. Tôi thử áp dụng giá trị của các hạt nguyên tử trong phương trình và bingo! Mọi thứ đều đâu vào đấy và vướng mắc đã được giải quyết ngon lành. Tôi không chợp mắt được chút nào đêm đó nhưng chẳng lấy gì làm khó chịu. Tôi đã viết một bài báo về lí thuyết mới của mình. Tuy nhiên, nó không được bất cứ ai đón nhận. Họ lo ngại rằng bài báo của tôi có thể đưa tới tác hại làm phá hoại thế giới. Họ hỏi tôi rằng liệu tôi có quan tâm tới những hậu quả phụ mà nó có thể đưa lại hay không. Và đó là những hệ quả kiểu gì. Đúng thế… chính xác theo cách những điều anh đang nghĩ tới trong đầu ngay bây giờ đấy. Liệu nó có đưa tới những quyết định kiểu như ngài Kim Sang-ok đã làm không? Tôi cảm thấy mình như vừa bị đâm sau lưng vậy. Đó là vấn đề cốt yếu nhất trong lí thuyết của tôi. Chỉ một rủi ro nhỏ nhất cũng có thể khiến thế giới chúng ta đang sống sụp đổ. Bất cứ ai sẵn sàng mạo hiểm cống hiến chỉ một sự hi sinh nhỏ (Dù nhiều người có thể cãi lại rằng chẳng có sự hi sinh nào là ‘nhỏ’. Để tạo sinh các hạt mang sự sống của chính mình, bạn phải nói lời vĩnh biệt cái cõi tạm này trong hiện tại để bước chân vào máy xay.) là sẽ có thể được sinh tồn vĩnh cửu trong vũ trụ nhân tạo của riêng mình”. Ông chủ cửa hàng điện tử, à không, nhà vật lí học nhìn chăm chắm vào mặt tôi rồi hỏi, “Nếu có thể, cậu muốn được quay trở lại thời điểm nào trong đời? Giai đoạn nào là thời hoàng kim trong đời cậu?” Thấy tôi còn do dự chưa trả lời ngay, ông mỉm cười sầu não rồi xua hai tay. “Không, thật ra anh không buộc phải nói với tôi những điều đó. Nhưng hãy thử tưởng tượng xem. Nếu chúng ta có thể quay trở lại những khoảnh khắc quý giá trong đời, lặp đi lặp lại những khắc giờ trân quý ấy, cậu nghĩ con người sẽ không lựa chọn sao? Đó là chưa nói nếu cuộc sống hiện tại của chúng ta chẳng khác gì địa ngục. Nếu là anh, anh sẽ lựa chọn thế nào? Sau vô vàn cân nhắc, tôi quyết định từ bỏ lí thuyết của mình, viết thư yêu cầu nhà in hủy tất cả các bản in cuốn sách của tôi mà trước đó tôi đã tự bỏ tiền ra xuất bản. Tôi rợn người khi nghĩ đến viễn cảnh nội dung cuốn sách rồi sẽ được lan mỗi lúc một xa và rộng. Chủ nhà in thực lòng lấy làm tiếc về quyết định của tôi. Nhưng ông ta tôn trọng nguyện vọng của tôi và chỉ lặng lẽ gật đầu. Nắm chặt lấy hai tay tôi như muốn trấn an, ông ta hứa sẽ tìm tất cả cho đến tận bản cuối cùng. Nhưng vậy là tôi đã phạm phải sai lầm. Nếu như tôi tự tay mình đốt đi tất cả, tất cả những hệ lụy sau này đã không xảy tới. Mãi tới sau này (sau chuyến viếng thăm lần đầu tiên của ngài Kim Sang-ok), tôi mới quay lại nhà in và yêu cầu được nghe toàn bộ sự tình, ông chủ nhà in tốt bụng mới hồn nhiên đáp lời, “Xin ông thứ lỗi. Tôi là một người làm sách, vậy nên tôi không thể chịu đựng được việc mình tự tay đốt những bản sao ấy đi… Tôi chỉ biết đặt chúng vào một cái thùng rác tái chế với hi vọng sẽ có người đến lấy và đọc chúng”. Mắt ông ta rơm rớm như chực khóc, và vì không muốn khiển trách làm tổn thương ông ta thêm nữa, tôi bỏ về nhà. Một lần nữa, mắt tôi vô thức liếc nhìn bản in cuốn “Vũ trụ toàn ảnh: Hướng dẫn thực hành” đặt trên bàn. “Điều đó cũng có nghĩa là rất nhiều bản sao có thể đang nằm trên giá sách của nhiều người khác, phải vậy không?” Và chính họ cũng đang cố công tìm cách chuyển hóa mình thành những hạt phân tử nhỏ xíu trong niềm hi vọng sẽ sáng tạo ra được một vũ trụ toàn ảnh nhân tạo của riêng mình. Nhà vật lý ngước nhìn cánh quạt trần, lộ rõ vẻ đau đớn. “Tôi không phủ nhận điều đó. Tôi chỉ có thể hi vọng rằng những người đã nhặt lấy cuốn sách của tôi về đều là những người có được hạnh phúc trong cuộc sống. Những người hài lòng với cuộc sống của mình ở đây và bây giờ sẽ không có ước vọng bước chân vào một vũ trụ nhân tạo để tồn tại vĩnh cửu trong đó. Tôi vẫn nhớ như in ngày ngài Kim Sang-ok đẩy cửa bước vào, mặt đỏ bừng. Ông ta la lớn, “Tất cả những gì trong cuốn sách đều là thật ư? Tôi có thể tiếp tục sự sống của mình trong một thế giới tự mình chọn lựa ư?” Điều ấy, với tôi là đương nhiên, nhưng thâm tâm xui khiến tôi đáp lại rằng, ‘Mọi thứ trong sách đều sai cả. Nó chẳng là gì khác ngoài ngón bịp tinh vi của một nhà khoa học điên rồ chỉ muốn nguệch ngoạc vài thứ cho đỡ chán đời’. Dù vậy, nhìn ánh mắt chứa chan hi vọng của ông ta, tôi không thể cất những lời ấy lên. Tất cả những gì tôi có thể làm khi ấy là gật đầu.”

Không biết phải nói thêm gì, tôi giơ tay nghịch bức ảnh Yoichiro Nambu trước mặt. Tất cả những điều tôi vừa nghe về lí thuyết dây, đường biên vũ trụ, gia tốc hạt cơ bản, tất cả đều không khiến tôi lưu tâm hay tò mò. Tôi chỉ bận tâm đến người thợ khóa già, kẻ khao khát tự tạo ra một vũ trụ của riêng mình và sống trong nó. Nhưng ông ta thì đã chết rồi. Bị cuốn sách dị thường cám dỗ, ông đã tự lấy đi mạng sống của mình. Không chỉ thế, ông còn sắp đặt để thân thể mình được đặt vào cối xay và trộn lẫn cùng sơn màu để trở thành một phần của một bức tranh lớn. Đó là cái thế giới kiểu gì mà khiến ông ta sẵn sàng trải qua tất cả những điều đó?

Như thể đọc được suy nghĩ của tôi, nhà vật lí nở một nụ cười bí hiểm. “Có phải cậu… đang thương tiếc cho cái chết của lão già không? Vậy thì, tôi có thể nói cho cậu biết một điều chắc chắn. Kim Sang-ok không còn tồn tại ở đây nữa nhưng đổi lại, ông ta đã tìm được một cuộc đời mà ông ta đã khát khao hướng tới ở một vũ trụ khác được tạo sinh từ chính thân thể của ông ta. Sao cậu không đưa cho tôi xem cuốn sách một chút nhỉ. Đây này, trang bao nhiêu ấy nhỉ? À, chính đây rồi, trang số 128. Đọc đoạn này đi và cậu sẽ hiểu vì sao người đàn ông già nua ấy cương quyết làm tất cả những điều đó, và tại sao chúng ta phải tôn trọng lựa chọn ấy của ông. Ai đó – chắc hẳn chính là ông Kim Sang-ok – đã gạch chân đi gạch chân lại đoạn này nhiều lần. Hành động bước vào vũ trụ toàn ảnh do con người kiến tạo ra theo một cách hoàn toàn mới này có ý nghĩa khác nhau tùy thuộc vào người quan sát. Trong trường hợp người trực tiếp thực hiện quá trình chuyển đổi, anh ta/cô ta chỉ đơn thuần dịch chuyển từ một vũ trụ này một sang vũ trụ khác. Tuy nhiên, trong mắt những người quan sát vũ trụ toàn ảnh nhân tạo từ điểm nhìn bên ngoài, toàn bộ quá trình này dường như chỉ là một trò mạo hiểm với cái chết. “Vài ngày sau đó, ông Kim sang-ok trở lại tìm tôi cùng người họa sĩ có vẻ ngoài tiều tụy. Tôi đã thiết kế bản vẽ bề mặt hai chiều của vũ trụ toàn ảnh theo đúng ý ông già muốn, và người họa sĩ chấp thuận sẽ chuyển nó lên mặt vải. Đúng như quy chuẩn tự nhiên, cả bốn bức tường cùng trần và mặt sàn tầng hầm được phủ sơn toàn bộ để tạo thành đường biên của vũ trụ. Phần còn lại thì cậu trông thấy rồi đấy.” Nhà vật lí ngưng một chốc và nhìn lên đồng hồ treo tường. “Được rồi, giờ tôi sẽ nói đi tới câu hỏi cuối cùng. Ông Kim Sang-ok đang ở đâu? Tôi có thể biết chắc đây mới chính là điều khiến cậu tò mò nhất. Cơ bản mà nói, ông ta đang ở dưới tầng hầm. Nhưng điều ấy không có nghĩa là ông ta đang thực sự sống dưới đó. Cậu hiểu ý tôi chứ? Nói cách khác, ông ta đã bước vào vũ trụ toàn ảnh ở một chiều kích hoàn toàn khác. Chúng ta không thể nhìn hay chạm vào được thời gian và không gian của nó. Trước khi thiết kế vũ trụ nhân tạo cho ông già, tôi từng nói với ông ấy rằng, ‘Vui lòng cho tôi biết những mốc thời gian bạn muốn quay trở lại. Tôi sẽ đưa những thông tin ấy vào các đường biên tương ứng.’ Gần như chẳng mất tới một giây suy ngẫm, ông ta lập tức đáp rằng, ‘Tôi muốn được quay lại buổi chiều ngày 15 tháng 4 năm 2014. Xin cho tôi mãi mãi được ở trong khoảnh khắc ấy, tôi cầu xin ông.’ Vậy đấy. Và trước khi giải thích vì sao ông ta chọn mốc thời gian này, tôi rất muốn chỉ cho cậu vài điều. Cậu có tò mò về việc vũ trụ toàn ảnh của ông Kim Sang-ok – cái vũ trụ nằm bên dưới tầng hầm cửa hàng chữa khóa nhưng hoàn toàn vô hình trước mắt chúng ta ấy – trông nó thế nào không? Tôi có cài đặt một chương trình đặc biệt trên máy tính của mình có chức năng dịch mã thông tin hai chiều thành toàn ảnh ba chiều. Cậu có muốn ngó qua không?”

Ban đầu, trên màn hình hiển thị các dấu chấm, các đường nét và góc cạnh chồng chéo không thể hiểu nổi. Kiên nhẫn quan sát thêm, tôi nhận ra những khuôn hình tưởng chừng dị thường ấy bắt đầu mang những hình dạng có phần quen thuộc. “Phải rồi, đúng vậy. Chúng giống hệt như trên tấm vải vẽ bên dưới tầng hầm.” Lát sau, những khối hình tụ lại một góc và biến thành một khối quay. Khối lập phương này rỗng bên trong, nhưng đột nhiên, một đốm sáng xuất hiện ở chính giữa và lớn dần lên. Điểm sáng này không ngừng lan tỏa cho tới khi phát nổ, bắn ra những tia sáng trải khắp màn hình. “Cậu cứ hình dung nó hệt như vụ nổ Big Bang ở quy mô nhỏ. Một vũ trụ mới đã vừa xuất hiện. Giờ thì, hãy xem điều gì sẽ xảy ra tiếp theo.” Các tia sáng từ điểm tụ bắn thành hàng trăm ngàn vệt, rồi tiếp tục quay vòng theo quỹ đạo. Hình ảnh xoay vòng trên màn hình sắp khiến tôi quay cuồng chóng mặt thì bất ngờ khựng lại, cuối cùng, một không gian ba chiều được tạo ra. Hình ảnh cửa hiệu sửa khóa hiện dần lờ mờ hiện lên. Một người đàn ông già. Lớp thạch cao quấn quanh ngón cái trên bàn tay phải. Một cậu bé chạy ra cửa với chiếc ba-lô trên vai. Tấm lịch trên bàn khoanh tròn những ngày đặc biệt: 16, 17, 18 và 19 tháng 4 năm 2014.

“Cách đây rất lâu rồi, ông ấy đã mở một cửa hiệu sửa khóa ở tỉnh Gyeonggi. Giờ, ông ấy lặp đi lặp lại vĩnh viễn những khoảnh khắc ấy, và thường mỉm cười một mình. Đương nhiên, ông ta không hề biết rằng vẫn chỉ mãi là những ngày đó nhưng được xoay trong một vòng lặp. Ông ta không bao giờ nhận ra được rằng mình là một phần của cái vũ trụ toàn ảnh của chính mình. Thời điểm ông bước chân vào thế giới đó, mọi thứ được thiết lập lại. Ông ấy chắc chắn phải có được hạnh phúc. Ít nhất là đỡ khổ đau hơn khi còn sống ở thế giới này. Xét cho cùng, ông ấy đã được chọn lựa không gian và thời gian thuộc thời hoàng kim của cuộc đời mình. Cậu hiểu chứ? Hãy nhìn nụ cười trên gương mặt ông ta… Liệu ai trên thế giới này đủ tự tin để khẳng định rằng ông ấy không có quyền làm tất cả những điều ấy với chính mình?” Tôi nhìn vào màn hình một hồi lâu, phóng to các góc khác nhau của không gian ấy. Cuối cùng, tôi cố phóng hình ảnh gương mặt ông lớn hết mức có thể, cho tới khi chỉ còn lại đôi mắt choán lấy toàn bộ màn hình. Tôi trông thấy hình ảnh một cậu bé phản chiếu bên trong đôi mắt ấy.

“Chú nhóc là cháu trai ông già. Gia đình duy nhất lão từng có… Tôi không biết ông ta gọi cậu nhóc thế nào. Ông chưa bao giờ nói cho tôi tên cậu bé.”

“Nhưng… Tại sao?”

“Sau ngày hôm đó, ý tôi là sau ngày 15 tháng 4 năm 2014 ấy, đứa trẻ không bao giờ trở về nữa. Nó đã bị chìm xuống đáy biển, sâu thật sâu vì vụ chìm phà. Tất cả những đứa trẻ trên chuyến phà đó. Cùng tất cả những người lớn trên đó.”

“Ông nói là… tháng 4 năm 2014 ư?”

“Tôi đoán cậu không biết vụ đó. Khi ấy chắc cậu mới chỉ là một cậu bé con.”

Tôi gần như không còn nghe được tiếng ông ta thì thầm.

“Thật lạ quá, phải không? Ý tôi là màu sắc thực sự của sự lãng quên.”

Chính lúc ấy, điện thoại bắt đầu rung lên trong túi áo tôi. Người gọi là Park, người đưa thư:

“Chúng ta gặp phải rắc rối lớn rồi. Tôi ngủ gật trong một phút và khi mở mắt ra, tên họa sĩ đã biến mất. Tôi chạy ra ngoài tìm nhưng không thấy đâu. Cậu đang làm gì? Cậu tìm được gì ở cửa hàng điện tử đó?” Tôi do dự không trả lời. Đầu bên kia giọng anh Park hoảng hốt: “Tôi phải làm gì đây? Tôi sẽ gọi cảnh sát.”

“Không, xin anh đừng. Thật ra, mọi điều họa sĩ nói với chúng ta là sự thật. Hãy bình tĩnh đợi tôi.”

Sau một thoáng im lặng, Park cúp máy. Nhà vật lý gật đầu với tôi. “Tôi không còn gì để nói nữa. Phần còn lại tùy thuộc cả vào cậu.”

Tôi mở cửa bước ra ngoài. Đột nhiên tôi nhớ ra mình quên cái gì đó và quay lại. Tôi lấy bản in cuốn “Vũ trụ toàn ảnh” vấn giấu dưới cánh tay mình và trao lại cho nhà vật lý. “Xin ông thứ lỗi… Cái ngày mà ông vừa nhắc tới, xin ông hãy viết lại nó cho tôi. Con phà chìm cùng những người trên chuyến phà đó… Tôi muốn biết mình đã thiếu hiểu biết đến thế nào và người ta đã vô tâm lãng quên ra sao.”

Ông lấy bút ra và sau vài giây ngập ngừng, ông đặt bút viết chậm rãi viết xuống giấy bảy chữ số, theo hàng ngang.

 

Quốc Hiếu – Thái Hà (dịch)

Theo bản dịch tiếng Anh của Helen Cho, Kim Stoker hiệu đính.

 

 

 

White Flamingo (Khách sạn Hồng Hạc Trắng)

Andrés Felipe Solano

Andrés Felipe Solano sinh năm 1977 tại Colombia. Ông là tác giả của hai cuốn tiểu thuyết “Sálvame” (Xin hãy cứu tôi), “Joe Louis”; và “Los hermanos Cuervo and Salario mínio” (Anh em nhà Cuervo và mức lương tối thiểu) – một tiểu luận dài về trải nghiệm của chính ông trong vị trí một công nhân nhà máy suốt sáu tháng trời chỉ được nhận và sống với mức lương tối thiểu. Năm 2016, “apuntes desde la cuerda floja” (Những ghi chú từ sợi dây chằng), cuốn sách phi hư cấu về cuộc sống của ông ở Nam Hàn được trao giải thưởng Thư viện dành cho văn xuôi Colombia. Tác phẩm của ông đã xuất hiện trên “New York Times Magazine”, “McSweeney’s”, “Words Without Boders và World Literature Today”. Ông từng được đề cử giải Granta 113 dành cho tiểu thuyết gia trẻ tuổi viết bằng tiếng Tây Ban Nha hay nhất. Gần đây, ông mới cho ra đời cuốn tiểu thuyết thứ ba, “Cementerios de neon” (Nghĩa trang Néon), kể về một cựu chiến binh Colombia tham gia cuộc chiến tranh Triều Tiên trở về bán đảo sau 50 năm.

Image result for Andrés Felipe Solano

Chiếc đồng hồ đeo tay hệt như một ngôi sao nhỏ đủ sức làm sáng rỡ một góc sảnh khách sạn dường như chỉ để quyến rũ Mariel. Đeo trên cổ tay trái của người đàn ông, trông nó tròn trịa chẳng khác gì những chiếc hộp đựng kẹo cao su bạc hà thường bày bán tại các quầy hàng vùng ngoại ô nơi cô chào đời.

Suốt mười hai đêm sau khi rời phòng phẫu thuật, cô đã ngẫm đi ngẫm lại việc sẽ quay trở lại thăm cái chốn tối tăm ẩm thấp ấy. Lúc nào cô cũng mường tượng trong đầu cảnh mình đang mỉm cười rạng rỡ, tự tin khoe thân hình mới mà để đạt tới độ hoàn hảo, đã phải bỏ bao nhiêu công sức tập luyện ở phòng tập gym gần căn hộ cô sống tại vùng Commodore. Cô ở đó cùng Caliche. Trong đầu cô vẫn hiện lên hình ảnh hai người họ đứng xếp hàng trước cửa hiệu thuốc vùng ngoại ô tồi tàn, đợi mua aspirin, và Caliche khẽ luồn tay vuốt mái tóc cô. Phải rồi, không phải “tóc”, mà là “mái tóc”. Tóc chỉ là của bọn ăn mày, lũ người chuyên đi nhặt nhạnh những chiếc hộp bìa cứng thải ra từ các quầy bánh kẹo ở khu phố quanh nhà. Tóc của họ khô xác, cứng như mớ giẻ lau sàn, chẳng khác gì đội một con thú chết bốc mùi trên đầu. Mariel thì có hẳn một mái tóc hẳn hoi. Không biết bao nhiêu lần cô đã hết nhuộm đỏ, để đen rồi nhuộm highlight, có khi còn phun màu ánh tím. Lần đầu tiên cô nhuộm tóc là tại một cửa hiệu làm đầu nhỏ ở Hialeah. Đương nhiên, lần ấy cô chọn màu hoe vàng. Một mái tóc vàng óng ả đã từng là mơ ước thuở ấu thơ, kể từ khi cô ngắm nhìn Ursula Andress trên tấm poster dán bên ngoài rạp chiếu bóng ở trung tâm thành phố. Cô nhóc mười hai tuổi khi ấy đã lẻn ra sân sau nhà cố tẩy trắng mái tóc, nhưng bà mẹ đã kịp thời bắt gặp ngay khi cô con gái vừa lén cầm được lọ thuốc tẩy peroxide trong tay. Bà giật ngay lấy rồi cho Mariela một cú tát trời giáng khiến môi trên cô nhóc sưng vều mất một thời gian. Có lẽ chính khao khát đó đã khiến Mariela giữ màu tóc hoe vàng một thời gian khá dài khi cô cuối cùng cũng có cơ hội được thỏa thích uốn nhuộm theo ý mình.

Mariela đã tạo dựng được cả một mạng lưới quan hệ với những khách sạn lớn nhất của thành phố. Chút tiền mặt ở chỗ này, chút tiền mặt chỗ khác, dúi cho nhân viên tiếp tân ở khách sạn Conrad, Loews, hay Victor, vậy là đã đủ để có được mọi chi tiết cô muốn biết – kiểu dáng, màu sắc, các dấu hiệu nhận biết. Chỉ cần tăng gấp đôi tiền boa, cô có thể biết chính xác đến từng chiếc đồng hồ hiện có trong mỗi khách sạn kim nào đang chỉ số mấy. Caliche, người chồng đầu tiên, từng dạy cô rằng một số loại đồng hồ – như Rolex Daytonas hay Breitling Navitimers – cũng có khả năng gây mê mạnh ngang một liều thuốc ngủ. Với anh thì, chẳng ai có thể đem trưng lên bàn ăn nhà hàng chiếc Ferrari mình sở hữu hay những bức tranh vốn chỉ được trưng bày trong những căn biệt thự ở Kay Biscayne; ngược lại, một phiên bản độc của chiếc đồng hồ đeo tay hiệu Catier Santos, lại có thể kín đáo phô diễn vẻ sang trọng ngay trong khi chủ nhân của nó đang xem xét hợp đồng hay kí nhận séc trong một cuộc họp. Với những người đàn ông giàu có và quyền lực, việc so đo đồng hồ thật chẳng khác nào mấy cậu nhóc choai choai kéo nhau vào nhà vệ sinh so nhau con giống.

Mariela bước chân vào nghề bán đồng hồ sau khi đã làm thử đủ thứ nghề đặc thù của dân nhập cư. Cô từng đi rửa sân bãi, phát tờ rơi, thay tã cho những cụ già móm mém. Cô lao đầu vào công việc mới phải đến hơn chục năm nay, và cảm thấy rõ rằng thời kì hoàng kim đã tới hồi tàn lụi. Những đầu mối khách sạn đã biết quá rõ về cô; hằng tháng, cô mang tới cho họ xem tạp chí Bộ sưu tập đồng hồ dành chon nam giới để dựa vào đó, họ nắm được kiểu dáng thịnh hành. Khi được họ nhấm nháy trước mỗi khi có sự thăm viếng của vị chủ tịch tập đoàn đa quốc gia nào đó, con trai của chủ nhà máy bia, hay giám đốc điều hành của một hãng hàng không, cô sẽ nán lại đó không dưới một tiếng đồng hồ. Rồi, với đầy đủ những thông tin cần thiết, Mariela tiến về phía người đàn ông tiềm năng, và, với sự quyến rũ và quyết đoán tuyệt vời, cô giới thiệu các sản phẩm của mình. Để không cảm thấy bị yếm thế trước những con người ấy, cô hay bắt chuyện với họ ở những chốn đông người như sảnh khách sạn Ritz Carlton ở Coconut Grove. Nếu anh ta tỏ ra thân thiện sẵn sàng trò chuyện, cô sẽ mồi chài anh ta bằng cách chỉ vào cái đồng hồ đeo tay cô thích nhất. “Ôi mới trùng hợp làm sao,” cô sẽ reo lên. “Chồng tôi cũng có một chiếc y chang luôn!”

Mariale rất biết cách nói dối. Nếu không, làm sao cô có thể xoay xở nổi ở Miami sau khi đã vừa như một con ếch gắng sức nhảy từ vũng lầy nghèo đói vùng Hialeah qua chốn Kendall xoàng xĩnh tầm thường để cuối cùng, giành chiến thắng rực rỡ tại vùng bờ biển Miami. Trong hai người chồng, giờ chỉ có Leandro, chồng thứ hai người Argentina là còn sống. Hai người gặp nhau trong một buổi đấu giá. Nếu như niềm đam mê đồng hồ của cô do Caliche thắp lửa, thì Leandro giúp cô nâng khiếu thẩm mĩ lên một bậc. Chính nhờ anh mà cô biết thế nào là đồng hồ rượu vang, đồng hồ lưỡi dao, thậm chí cả đồng hồ tem. Leandro chỉ cô cách nhắc đi nhắc lại sao cho sành điệu những tên hãng Pollock, Warhol, Basquiat mỗi khi tham dự một bữa tiệc cocktail. Anh còn bỏ ra nhiều năm để lôi kéo cô cùng chia sẻ niềm đam mê xì-gà, nhưng không thành công. Hồi trước anh thường hay nói cô là mẫu phụ nữ hoàn hảo để trở thành thành viên câu lạc bộ xì-gà Rosa Cuba Media Noche. Nhưng theo thời gian, hơi thở của anh ngày một nặng mùi tới mức không chịu nổi. Đó là lí do cô chia tay anh, và từ sau đó, cô không duy trì bất cứ một quan hệ nghiêm túc nào với ai nữa. Dù vậy, cô không nhớ Leandro. Hoặc không phải theo cách cô nhớ nhung Caliche. Anh đã từng rất tốt với cô: anh là người duy nhất trả cho cô toàn bộ tiền phẫu thuật. Caliche từng sống ở Miami từ cuối thập niên 70. Anh là một phi công. Họ gặp nhau ở Câu lạc bộ 1235, khi Mariela còn đứng bán hàng sau quầy bar. Một tuần sau khi cô tiết lộ cho anh bí mật của mình, họ bắt đầu chung chăn gối. Cứ như thể ngay khi gặp cô, một cỗ máy đầy năng lượng bỗng nhiên thức dậy vận hành bên trong người đàn ông có đôi bàn tay thô ráp này, một cỗ máy chỉ dừng làm việc khi anh chết.

Đứng trong sảnh khách sạn chờ vị khách hàng tiềm năng kết thúc cuộc điện thoại, Mariela hồi tưởng lại cái chết của Caliche giữa cửa hàng thịt gà. Món ăn yêu thích duy nhất anh không thể quên nổi từ hồi còn sống nghèo sống khổ ở Colombia là đây: gà quay ăn kèm khoai tây nghiền và tương ớt tự làm. Chính thói quen yếu đuối ngu ngốc ấy đã giết anh. Ngay sau khi chôn chất anh, Mariela quyết định làm một cuộc đào tẩu. Tiếng mưa đá rền vang như đạn bắn nghe như tiếng chuông báo động. Cô không vứt bỏ tất cả và bắt đầu một cuộc đời mới chỉ để tới một đêm bị tìm thấy trong hẻm tối, bụng đói cồn cào như muốn lộn ra ngoài. Cô mang theo mình hai trong số những chiếc đồng hồ Omega của Caliche.

Một trong những thủ thuật bán hàng của cô là trao cho khách hàng tấm danh thiếp, sau đó vờ uể oải duỗi tay, khéo léo lộ cho anh ta thấy chiếc đồng hồ vàng hiệu Rolex Submanriner cô đang đeo. Một chiếc đồng hồ nam trên cổ tay một phụ nữ, điều ấy cực kì kích thích, nhất là khi đó là vàng 18 cara sáng lên trên làn da màu đồng của Mariela. Cô không bao giờ ngủ với khách hàng mình, đó là nguyên tắc. Cô từng học hỏi được từ rất lâu rằng làm việc gì cũng cần ít nhất một nguyên tắc, nếu như không muốn bị mất phương hướng. Cô mới phá vỡ nguyên tắc ấy một lần duy nhất, với Leandro, sau khi cô đã đoan chắn rằng không một ai trong bọn họ cảm thấy bất ngờ vì điều đó. Bản thân cô ghét những sự bất ngờ. Cô đã cố phòng chắn đủ kiểu để tránh những bất ngờ ập đến trong đời. Đó là lí do khi trông thấy người đàn ông băng qua sảnh đợi, cô thất thần muốn xỉu vì phát hiện ra chiếc vòng tay đính hai chữ cái tắt trên cổ tay anh ta.

Không đợi tới khi anh ngoảnh lại, Mariela đã di chuyển ra phía quầy bar khách sạn, gọi một chai cocktail bạc hà. Sau khoảng nửa giờ ngồi một mình và đã uống đến ly thứ hai, cô đi lại chỗ quầy tiếp tân, dúi cho Xiomara mấy đồng tiền. Lúc nào cô cũng mang trong người một tệp tiền mặt mới cứng mà một người bạn ở ngân hàng thường hay dành đổi riêng cho cô. Điều này đặc biệt quan trọng giúp cô có thể trao cho các đối tác của mình những đồng tiền còn thơm mùi mới, sắc cạnh như bánh quy giòn, khiến họ không có cảm giác đang làm điều gì lén lút. Bao tháng ngày lang thang trên đường phố đã cho cô một bài học rằng những đồng tiền cũ nát nhờn mỡ dễ gây cho người cầm một mặc cảm tội lỗi mà phải một thời gian rất dài sau mới có thể phai mờ.

Người đàn ông đã đến khách sạn này bốn đêm liền, nhân viên tiếp tân kể. Tên anh ta là Alfonso Duque.

Duque ngồi cúi đầu nhìn xuống đôi bàn chân suốt một hồi lâu. Mảng thấm ướt mặt da giầy trên mu bàn chân phải của anh lan rộng hơn bên chân trái. Cũng phải, anh vừa mới trải qua một ngày dài: rặng thông, sân bay, taxi, sân bay, rừng cọ, nhưng ngay cả vậy đi chăng nữa Duque cũng không hiểu nổi vì sao một chân bên này của anh lại đổ mồ hôi nhiều hơn bàn chân còn lại. Anh căm ghét trà, ghét những buổi sáng nóng nực, những bài ca than vãn ỉ ôi cùng một đống những điều tề hại khác, nhưng trên tất cả, điều anh ghét nhất chính là việc phải quay trở lại thành phố này và cúi nhìn đôi bàn chân đổ mồ hôi. Sau khi điều tương tự như thế từng xảy ra, anh cố tránh Miami hết lần này đến lần khác, dù khối lượng công việc phải làm ở nơi này thì cứ ngày một trở nên khổng lồ từ những năm 1980. Thay vào đó, anh nhận các công việc ở Colon, Lima, vài hòn đảo vùng Caribe; thậm chí còn đồng ý tới tận Budapest để bảo dưỡng mấy khẩu pháo hỏng của ai đó máu mê tự mình tập bắn. Nhưng lần này Ramiro cương quyết lệnh cho anh phải quay trở lại Miami. Duque thầm nghĩ Ramiro đã đến tuổi xế bóng rồi, đã có những cơn bốc đồng cùng mùi hôi khó chịu, và bắt đầu điên điên rồ rồ.

Ông chủ đã bị bỏ tù ở độ tuổi năm mươi. Ông nặng nề bước vào cánh cửa phòng giam với thân hình phì nộn vuông chằn chặn khiến ngay cả những việc đơn giản nhất trong ngày cũng trở thành khó khăn, từ việc đi chung thang máy tới ngồi giải quyết nhu cầu trong nhà vệ sinh. Giờ đây, sau mười năm, Ramiro trông chẳng khác gì quả đu đủ tái xanh. Ông dành nguyên tháng cuối cùng trong tù để hoàn thiện nốt ba trang giấy tờ gắn với công việc kinh doanh còn dở dang. Ông đã đưa cho Duque xem danh sách này vào buổi tối đầu tiên họ gặp lại nhau tại khu nghỉ dưỡng trên núi, một trong những tài sản ông còn giấu được không để bị tịch thu. “Để làm lại từ đầu, chúng ta phải dọn quang con đường,” ông nói, trên tay cầm điếu xì-gà và ly sữa lạnh. Cái tên đầu tiên trong danh sách là Jairo.

Duque hoàn toàn hiểu được nhiệt huyết không toan tính đang thôi thúc người đàn ông luống tuổi, nhưng anh không tài nào hiểu nổi vì sao họ vẫn còn phải bám đuổi Jairo sau ngần ấy năm. Khi một mình trở về từ Miami, anh cũng đã từng phải đau đầu giải thích với sếp mình. “Hắn ta biến mất. Tôi không thể tìm được hắn trong phòng, hắn thậm chí còn chẳng thèm tới sân bay. Đó là tất cả những điều tôi có thể nói với ông”. Ramiro không nghi ngờ chút nào những gì anh nói, nhưng ông cũng nhắc nhở rõ ràng rằng việc kết nối sát sao với đối tác là nhiệm vụ của Duque, và rằng rồi anh sẽ phải học cách để một ngày nào đó siết chặt hơn vòng tròn quan hệ của mình. Ramiro thích những gì có hình tròn. Ông mê trăng tròn, thích nhìn cách quạt trần xuay tít tạo thành một vòng tròn liên tục. Duque lại thích những đường thẳng song song, đường quốc lộ phân làn hay cặp vợ chồng già mỗi người một giường riêng biệt.

Anh kiếm một đôi vớ sạch nhất mà mình có, đi vào chân, duỗi người trên chiếc giường lộn xộn đầy những gối. Phòng nghỉ giá 300 đô một đêm. Dunque đã cố gắng quản lí tiền của Ramiro cẩn trọng hết mức để có thể dành ra được một khoản giúp hai người đủ sống thoải mái một khi đã rút khỏi chốn giang hồ. Anh không hiểu nổi ý tưởng nào đã nảy ra trong đầu người đàn ông già khiến ông hăng máu lao vào một hướng kinh doanh mới tinh ở cái độ tuổi đã xế bóng này, thật không biết phải nói sao với bản kể hoạch điên rồ ông già vẽ ra. Duque sẽ chẳng thắc mắc gì nếu những điều họ bàn tới là vàng bạc hay ngọc lục bảo. Nhưng không. Lão già lẩm cẩm Ramiro nắm trong tay cả mấy chục hec-ta đất rừng và phải có đến mấy bãi đá kim loại xám mà người ta gọi là Coltan. Có lần ông còn đặt mẫu đá này vào tay Duque khi hai người đang ở Jacuzzi, và giải thích rằng mỏ đá này rất gần vùng biên giới giáp ranh Venezuela. Họ sẽ phải đến đó, đào, rồi vận chuyển chiến lợi phẩm bằng thuyền xuôi xuống vùng Orinoco, sau đó cho lên xe tải chở về Bogota, rồi từ đây, chuyển ra bến cảng. Trong kinh doanh, Ramiro làm việc rất bài bản: ông có sẵn đối tác ở cả Đức và Trung Quốc. Duque chỉ cần phụ trách công việc khai thác lộ thiên. Duque nghĩ rằng lẽ ra mình phải căm ghét Ramiro vì điều này, ghét ông ta như thể ghét khăn trải bàn nhựa và xe đẩy trẻ (dù trên đó không đặt đứa trẻ nào chăng nữa), nhưng sự thật là Ramiro chính là người đã cứu mạng anh. Ông ta đã ban tặng cho anh một cuộc đời. Vì vậy, lòng trung thành của anh với người đàn ông tóc có mớ lông dài dị thường giờ đã lấm tấm bạc mọc ra từ núm vú này đã đẩy anh vào tù, rồi cũng chính lòng trung thành ấy lại đẩy anh quay trở lại Miami lần nữa. Vì Ramiro, Duque giờ đang nằm trên chiếc giường đôi ở Ritz Carlton, bụng nhộn nhạo vì ăn thịt xông khói với khoai tây nghiền khi chưa lấy gì làm đói.

Anh nhắm mắt và cố nhớ về cái khách sạn anh cùng Jairo đặt vào cái đêm xa xôi đó. Anh đoan chắc vị trí của nó là ở trung tâm thành phố – nhưng tên khách sạn là gì mới được? Phải rồi, White Flamingo. Duque có một trí nhớ tuyệt vời, anh làm việc gì cũng rất quyết đoán và có thể tiên liệu trước những hệ quả mà hành động của mình có khả năng dẫn tới, thật là năng lực của một nhà leo núi chuyên nghiệp. Làm công việc này đòi hỏi không chỉ chăm sóc kĩ lưỡng đôi tay và đôi mắt, mà còn phải bảo vệ cái đầu của mình. Nếu không, cứ nhìn những người trẻ hơn thì biết, đầy những kẻ đã tiêu tán sự nghiệp và phá sản vì gái gú, nghiện ngập và rượu chè. Có lẽ đó là nguyên nhân tại sao anh vẫn chưa hết bực mình vì cái sai lầm hồi ấy mình đã gây ra. Không biết đã bao nhiêu lần anh được nhắc nhở rằng nên mướn một phòng đôi thay vì hai phòng đơn? Jairo khăng khăng rằng họ làm gì túng thiếu tới mức chỉ thuê có một phòng và anh ta không muốn bị mất ngủ vì phải nghe tiếng ngáy của Deque. Người ta thường nghĩ rằng chỉ những người béo mới ngáy khi ngủ, nhưng điều đó không đúng chút nào – cả đời, Duque gần như chẳng lúc nào không ngáy, dù anh gầy đét như một que hương. Anh chắc chắn điều ấy có liên quan gì đó với miếng táo Adam mắc dở trên yết hầu mình. Chính anh cũng chẳng thể quen mắt được mỗi khi nhìn nó trong gương, thấy nó nhô ra nhọn hoắt như cái mũi thứ hai mọc dưới cằm, đính chặt vào cổ họng. Duque ghét cay ghét đắng nó, cũng phải ngang với cách anh thù ghét tiếng ồn ào của xe bus vào mỗi sớm mai, thịt hộp hay khuôn mặt trái xoan.

Cuối cùng, không thể chịu nổi khi cứ nhìn mãi hai chiếc vớ đẫm mồ hôi, anh đứng dậy quăng chúng vào thùng đựng rác bằng kim loại. Vẫn đứng thêm một lúc, anh mân mê để cảm nhận mép trên của tập giấy viết kẹp giữa đống tài liệu trên chiếc bàn nặng trịch. Giơ tay xoa xoa cái chặn giấy vàng hình đầu sư tử, anh cố thử chạm tay vào cái lưỡi nhỏ xíu chạm trổ trên nó. Cơn giận của anh, Miami, chốt kim loại cố định đầu gối khiến anh khổ sở khôn nguôi, tất cả đều biến mất trong khoảnh khắc anh nhận ra mình dù đi ở khách sạn mà vẫn còn biết tự trang bị đến từng tiểu tiết. Bót đi giày thì lúc mới đến anh đã để ý thấy trước là có sẵn trong phòng tắm. Anh trông thấy nó lúc đang đứng tiểu, xả ra ngoài một dòng nước vàng tươi – trông gần như màu cam, thật đúng là phải cảm ơn những loại vitamin gần đây anh bắt đầu uống. Ở một số khách sạn, nhất là những khách sạn hàng đầu, bót đi giày và giấy viết thư đã trở thành quá vãng. Ở những chỗ như thế này, người ta đã cung cấp dịch vụ internet miễn phí để thay thế. Anh thầm tán thưởng mình vì đã nhanh trí kiếm trước cho mình cả tệp giấy viết phòng khi cần. Anh mua trước nó từ chiều nay, trong tầm một tiếng sau khi xuống máy bay, đến giờ chúng đã sẵn sàng trong chiếc cặp nam anh xách theo người – anh tậu được chiếc này hồi giữa những năm 80. Đống giấy viết được anh bọc cẩn thận trong chiếc khăn tay, tránh để những cạnh sắc làm xước mặt da cặp. Ngày mai anh sẽ phải bắt đầu dò la về Jairo. Ramiro có tai mắt ở khắp mọi nơi. Trước khi Duque lên máy bay, ông già này đã cho anh vài địa chỉ liên hệ, những kẻ đã về vườn đồng ý nói vài câu để được trả công, cả những kẻ vẫn định cư ở Florida trong vai những công dân trung thực hết sức hối tiếc về lỗi lầm tuổi trẻ. Công việc kinh doanh đã bị những tập đoàn gia đình chiếm đoạt, và chẳng còn ai biết nổi ai từng là người khởi nghiệp trước kia. Nếu hình dung, sẽ thấy nó giống hệt như một tổ gián: chỉ cần đèn bất ngờ bật lên, chúng sẽ chạy tán loạn theo đủ hướng. Có lẽ lão Ramiro nói đúng, tốt nhất là nên mạo hiểm làm một điều gì đó hoàn toàn mới mẻ, như khai thác đá hay mỏ Coltan chẳng hạn. “Chúng ta phải đầu tư tiền vào công nghệ, chàng trai của ta ạ,” ông từng khuyên Duque như thế khi họ cùng leo ra khỏi bồn tắm lớn, bước qua mình Oscar, chú chó giống terrier đang say ngủ. Oscar là người bạn đồng hành suốt cuộc đời lão già, giờ nó nằm liệt một chỗ vì chứng viêm khớp.

Duque nhấn nút bật ti-vi. Anh lõm bõm theo học tiếng Anh mấy năm gần đây, từ khi phải đến lánh nhờ nhà người họ hàng ở Jersey City. Anh thích chất giọng Anh-Mĩ trên các quảng cáo. Một trong những giọng nói vui tươi sáng rõ ấy sẽ đón anh ở ngưỡng cửa địa ngục, anh chắc mẩm thế. Sau phần quảng cáo du thuyền, quả cầu kim loại lớn anh từng cùng Jairo nhìn thấy vào tháng 12 năm 1982 xuất hiện trên màn hình. Vừa nhìn lên ti-vi anh đã nhận ra ngay. Hai người họ hồi ấy từng thuê xe lái từ Miami tới Orlando để ăn mừng một vụ làm ăn trót lọt. Những người khác chọn cách ăn mừng trong các nhà thổ; nhưng họ thích ăn mừng kiểu này hơn, trong một công viên giải trí, hạnh phúc như một cặp tình nhân. Lại đúng vào hôm công viên kỉ niệm tròn 30 năm thành lập. Duque thử cố nhẩm tên công viên trong đầu, nhưng nó đã trôi tuột đi lúc nào không hay. Anh chợt cảm thấy muốn quay lại Orlando lần nữa. Anh đã tính cả rồi. Anh có thể dành riêng cho mình một ngày tự do trước khi bắt tay vào tìm Jairo. Hài lòng với kết luận này, với cả việc cái bụng nhộn nhạo nãy giờ cuối cùng cũng đã êm lại, Duque thiếp vào giấc ngủ, quên cả thay quần áo và tắt đèn. Lần này chứng ngáy không làm anh giật mình tỉnh giấc như thường lệ, khi cả người đã thấm mệt.

Đến công viên, anh phải trả phí vào cổng. Sau khi mua vé, anh được phát kèm tờ rơi ghi bằng mấy ngôn ngữ khác nhau. Mất vài phút đi xuyên qua vườn, anh thấy mình đang đứng đối diện một quả cầu khổng lồ. Gần chỗ anh đứng, một cặp vợ chồng trẻ thích thú chụp hình cứ như thể trước mặt họ là thánh đường hay kim tự tháp. Anh quyết định kiếm một cái ghế dài để có thể ngồi chiêm ngắm nó trong yên bình. Anh phải đi nửa vòng hồ mới kiếm được chỗ ngồi. Anh vẫn nhớ như in cái hồ đó. Chỉ cần thuê một chiếc thuyền, sẽ như thể bạn được du ngoạn vòng quanh thế giới chỉ trong nửa giờ đồng hồ vậy. Quanh hồ là các tòa nhà được xây theo phong cách Mexico, Pháp, Nhật, Trung, Ý, Canada. Anh tự nhủ liệu Canada có đáng được kể ra ở đây không, đã từng tồn tại cái gì gọi là nền văn minh Canada chưa? Cuối cùng, một cặp vợ chồng già đã lịch sự ngồi sát vào nhau, để chừa cho anh một chỗ trên băng ghế. Ông chồng mỉm cười, một bên mắt ông băng gạc trắng. Trông ông như một cậu nhóc bé nhỏ bên cạnh vợ. Và ngay khi vừa ngồi xuống, Duque nhận ra đôi bàn chân mình lại đang đổ mồ hôi. Trong xe vẫn còn một đôi vớ anh tiện thể mua ở siêu thị khi phải đỗ lại để gọi điện thoại dây. Anh chưa từng dùng điện thoại di động, và sẽ chẳng bao giờ có cái ý định đó. Coltan được dùng trong quá trình chế tạo giúp điện thoại di động và máy tính đỡ nặng hơn, Ramiro từng giải thích. Duque không hiểu tại sao người ta lại cứ muốn cái gì cũng phải nhẹ đi làm gì. Anh thích chiếc đồng hồ và những đồ nghề của mình theo đúng cách chúng vốn là. Ở nhà anh có năm khẩu súng ngắn, mỗi khẩu một kiểu khác nhau, dù gần đây anh hầu như không động tới chúng. Giờ Ramiro đã được trả tự do rồi, anh lại phải lôi chúng ra khỏi gara để lau mỡ tra dầu. “Một là rảnh rỗi cưỡng chế trong tù, hai là rảnh rỗi theo sở thích. Kiểu này mới thật là độc hại,” có lần Ramiro vừa nói vừa chỉ cho anh xem bản đồ khu mỏ. Ông lấy ngón trỏ chỉ từng vị trí. Những ngón tay của ông ngắn ngủn, mập mạp, hệt như ngón tay một người lùn. “Chúng ta phải thuê bọn người Ấn. Người bản địa cũng được, nhưng không nên nhiều. Người Ấn là tốt nhất. Nếu họ không muốn làm việc, chúng ta cứ tống thẳng việc vào người họ. Nhàn hạ chỉ tổ giết người”. Trong đầu Duque hiện lên hình ảnh những lán trại, nước bùn đục ngầu, một đám người Ấn xoay trần khai thác đá. Anh không chắc mình có thể bắt đầu tất cả những thứ ấy lại một lần nữa hay không. Anh sẽ phải ép mình mạnh mẽ để cầm chịch những buổi thảo luận trong các quán cà-fê giữa những ngôi làng hoang vắng giữa rừng rậm, bu xung quanh là lũ người đói khát. Anh sẽ phải kiếm cho mình chút tự tin để không chút đắn đo ném lên bàn khẩu súng, kèm một chai bia và chiếc bánh ngô. Anh sẽ phải ra lệnh cho họ. Chỉ nghĩ đến thôi đã thấy mệt mỏi rồi. Hai vai anh đau nhói, cứ như thể đang phải vác cả bao cát trên lưng.

Vẫn cầm tờ rơi trên tay, anh khẽ liếc nhìn. Trên đó ghi truyện kể về công viên này, và cả ý nghĩa của quả cầu lớn. Hóa ra đó là mô hình tàu vũ trụ. Tour du lịch bên trong quả cầu sẽ khám phá lịch sử giao tiếp của toàn nhân loại. Trên một mặt giấy, anh đọc được mấy dòng mở đầu của lời giới thiệu tour: “Chúng ta từ đâu tới và chúng ta đi về đâu? Câu trả lời nằm trong quá khứ”. Một trong những điều Jairo thích nhất là hình ảnh cô thư kí tóc búi cao ngồi trước màn hình nơi công sở. Duque có thể hình dung ra Jairo tức thì, với nụ cười mỉm, tính tình cẩn trọng, mái tóc đen dày, và làn da phụ nữ. Anh ta chẳng bao giờ phải cạo râu, chưa khi nào thấy một cọng râu trên má. Lần đầu hai người gặp nhau là ở trường học. Bố mẹ họ sở hữu những căn nhà đẹp nhất trong khu phố. Cổ nhưng rộng rãi, với nhiều phòng và sân hiên. Họ thích đi xe máy và nghe nhạc pop của Mỹ: các nhóm nhạc như Chicago, Foreigner, Toto. Jairo là một tay hát rất cừ.

Jamiro bắt gặp hai người khi họ đang đứng dựa lưng vào xe máy, với xoài dầm muối và nửa chai nước lọc trên tay. Khi ấy họ đang trên đường lái xe quanh những ngọn đồi ở vùng ngoại ô thành phố. Họ thường cùng leo lên đồi để nhìn những cột khói bên dưới ùn khói vào bầu trời đêm. Hôm đó Ramiro đi cùng một sĩ quan cảnh sát tên là Galindo, người sau này sẽ bị kẻ kình địch dìm chết ở hồ bơi. Thỏa thuận Ramiro đưa ra cho họ rất đơn giản. Nếu họ nhận lời, ông sẽ cho họ luôn một chiếc mô-tô mới. “Cái này cũ quá rồi,” ông phán khi vẫn không thèm bước ra khỏi xe. “Cậu xứng đáng có những thứ tốt hơn thế. Một cái xe hiệu Kawasaki hay chí ít cũng phải như vậy”. Đến khi về, họ cùng suy đi tính lại suốt đêm trên tầng thượng, tới ngày hôm sau thì quyết định gọi theo số Ramiro đưa cho. Họ chẳng vấp phải khó khăn gì lắm với công việc đầu tiên trong đời, vận chuyển một bao tải nặng như thể bên trong chất đầy búa tạ. Tất cả chỉ có vậy. Ramiro có giao thêm vài việc nữa sau đó, họ đều xuất sắc hoàn thành. Sau một năm làm việc, Ramiro mời họ tới một trang trại trồng vô biên là chuối, ở đây, họ được Galindo dạy bắn, nấp sau một téc nước khổng lồ. Họ học rất nhanh, đặc biệt là Duque. Jairo thì chỉ đơn giản làm theo chỉ dẫn của anh. Lần nào họ cũng hoàn thành công việc rất chuẩn giờ, và không để dây dưa bất cứ một hệ lụy nào, ngon nghẻ như một thợ ống nước lành nghề hay thợ xây chuyên nghiệp. Họ đã trở nên nổi tiếng toàn khu phố. Được người ta trọng vọng. Không ai phàn nàn nếu họ rời bàn tiệc sớm. Rồi Ramiro phái họ tới Miami. Họ đuợc gửi tới đó để khử một lão lai Liban-Colombia, kẻ đã trục lợi từ công việc kinh doanh của Ramiro. Họ xử lí anh ta trong một khu mua sắm giữa thanh thiên bạch nhật, không chút ghê tay. Ngày hôm sau họ mua giày và thuê ô tô. Jairo mua thêm cả một chiếc máy ảnh lấy ngay. Đây chính là những gì khiến Ramiro thích ở họ; rất nhanh xóa khỏi đầu công việc vừa làm, và có thể thản nhiên tiếp tục sống cuộc đời mình như chưa có chuyện gì xảy ra.

Trên tờ rơi còn nhắc đến cả tên của người từng viết những câu chuyện đầu tiên về khối đại cầu. Đương nhiên đó phải là một nhà văn lừng lẫy, Ray Bradbury. Duque vẫn nhớ rõ hình ảnh cuối cùng trong phần giới thiệu về chuyến tham quan trong khối cầu – một cậu nhóc ngồi một mình, mắt dán vào máy tính cá nhân. Cậu ta vừa cô độc, nhưng đồng thời cũng đang kết nối. Đó cũng chính xác là điều Duque cảm thấy trong suốt cuộc đời mình. Trong lúc đang suy nghĩ vẩn vơ như thế thì một ai đó đi tới ngồi xuống bên anh. Đó là một phụ nữ thanh lịch, trẻ hơn anh vài tuổi, và có thể nói là trang điểm hơi quá đậm. Dường như cô cũng đang cầu nguyện khối cầu ban cho mình một điều gì, trang nghiêm đúng như cách người ta thường cầu nguyện trước tượng chúa Giê-su trên cây thập giá ở mỗi nhà thờ. Mắt cô chăm chắm không rời. Từ cô tỏa ra một thứ mùi dễ chịu, Duque thầm nghĩ. Được một chốc, cô đứng dậy, và Duque cố nhìn theo bước chân cô, nhưng cô nhanh chóng lẩn khuất giữa đám đông. Đúng lúc ấy thì một nhóm du khách mặt đỏ gay xuất hiện, nhìn bộ dạng bọn họ mà anh từ bỏ luôn ý tưởng xếp hàng tham quan bên trong quả cầu. Anh chẳng còn muốn nhìn xem tương lai sẽ thế nào nữa. Đúng hơn là bằng cách này cách khác, anh đã biết cả rồi. Có gì đâu ngoài cái chết và sự hủy diệt. Anh ngước nhìn lần cuối bề mặt kì cục của khối kiến trúc. Trong mắt anh, trông nó như thể được chế tác từ Coltan. Trước khi rời công viên, anh mua một cái móc khóa trong cửa hàng lưu niệm.

Không bật máy điều hòa, anh cứ thế để cửa mở lái xe về thành phố. Anh đỗ lại trước cửa ga vừa để xả cho nhẹ bụng vừa để làm một cú điện thoại; lại một dòng màu cam đục được trút ra. Đi qua cầu, đầu anh vẫn vấn vương hình ảnh người phụ nữ vừa gặp, cách cô ngồi lưng thẳng tắp như que thông nòng súng, cần cổ dài, và mọi việc dần dần xâu chuỗi lại trước mắt anh.

Anh trở về khách sạn trước khi màn đêm buông xuống. Tắm, thay quần áo. Rồi xuống sảnh, trên tay vẫn xách cặp táp. Anh chẳng thèm để ý cái quần mình mặc trông đến nhàu nhĩ. Bữa tối anh chẳng ăn nổi gì ngoài món canh cà chua. Tại quầy lễ tân, anh hỏi nhân viên địa chỉ khách sạn White Flamingo. Phải loay hoay mất một lúc cô nhân viên mới tìm ra được địa chỉ của khách sạn ấy, có vẻ cô không được thành thạo máy tính cho lắm, nhưng cuối cùng cô vẫn chỉ được cho anh là mất tầm 20 phút đi xe hơi.

Chuông điện thoại reo đúng vào khi Mariela vừa bước chân vào bồn nước ấm. Cô đã pha vào nước tắm một chút ma-giê sun-fat, chút bột soda, và chút dung dịch glycerin. Người gọi là Xiomara. Cô ta kể rằng ngài Alfonso vừa mới hỏi thăm cô một địa chỉ trong trung tâm thành phố, rồi rời khách sạn luôn. Alfonso, sao anh ta lại chọn cái tên nghe xấu đến thế để đăng kí khách sạn chứ. Khi cô nhân viên tiếp tân nói lại cho Mariela điểm đến mà Duque vừa hỏi, cô dường như ngẹt thở. Trời đất, cô thầm nghĩ, đầu tiên là công viên, giờ thì đến chỗ này. Cô đã muốn bắt chuyện ngay lúc anh đang ngồi trên băng ghế, nhưng không dám. Biết làm thế nào để khơi lại cuộc chuyện trò sau suốt ba mươi năm? Cô không muốn cố trì hoãn những điều không thể trì hoãn. Rõ ràng là anh biết cô quan sát anh; giờ cô muốn được nghe lại giọng nói tuổi thanh thiên của chính mình. Cô sẽ hỏi vì sao anh vẫn còn đeo mãi chiếc vòng đồng khủng khiếp đó, chiếc vòng lão Ramiro đã cho anh, trì lấy tay như một cái còng.

Cô tìm được chỗ đỗ xe chẳng mấy khó khăn. Trước khi bước ra khỏi chiếc xe tải nhỏ, cô lướt lại lớp điểm trang trên mặt. Phấn hồng, môi son, kẻ mắt. Rồi cô đi vào cái khách sạn nơi cô đã chôn vùi phần đời trước kia của mình. Một người đàn ông ngồi phía sau cửa sổ, tái nhợt vì xem quá nhiều ti-vi trong bóng tối, nói cho cô biết số phòng. Không nhất thiết cô phải trả công cho hắn vài đồng bạc quăn queo. Cuối cùng, giây phút ấy cũng tới, đứng trước cửa phòng, Mariela cúi nhìn xuống móng tay và thoắt rùng mình, đó chính xác là những gì cô từng làm khi rời khỏi chính nơi này rất từ nhiều năm trước, chỉ xách theo cái va-li nhỏ. Cô gõ cửa đầy dứt khoát. Cô nghe thấy tiếng bước chân, và cánh cửa hé mở. Cô đã không để ý đến chiếc cặp táp anh chăm chú nhìn khi hai người cùng ngồi trên băng ghế. Cô nhất định sẽ gợi ý anh để một bình cúc tâm tư nhỏ trong phòng. Duque quay lưng đi về phía chiếc ghế nâu anh vẫn ngồi từ trước khi cô tới. Mùi nước hoa trên người anh trộn lẫn với mùi thuốc lá và tinh dịch lưu cữu trong phòng. Mọi thứ dường như đang được lặp lại chính xác đến từng chi tiết trong căn phòng khách sạn tồi tàn. Mariela ngồi xuống một góc giường, túi đặt trên đầu gối. Cô đi một đôi vớ đen tuyệt đẹp, trông càng ấn tượng hơn khi bên dưới là đôi guốc cao gót. Bản năng thôi thúc cô vươn tay chỉnh lại tấm ga giường, nhưng cô kiềm chế được. Từ bên ngoài vọng vào tiếng còi ô tô, còi báo động ở những cửa hàng trang sức. Ánh đèn neon từ biển hiệu khách sạn White Flamingo hắt vào phòng chập chờn. Duque là người lên tiếng trước.

“Tôi cứ tưởng đó chỉ là những tin đồn vớ vẩn, vậy mà hóa ra lại thật.”

“Như anh thấy đây.”

“Giờ cô đổi tên thành gì rồi?”

“Mariela.”

“Cái tên đến xấu.”

“Alfonso độ này thế nào?”

“Alfonso là tên ông nội tôi.”

“Thế mà em không biết đấy. Giờ nghe lại vẫn thấy quá khủng khiếp.”

Cách phát âm của anh vẫn đầy ấn tượng như trước kia, du dương mà trầm ấm, đẹp như giọng một giáo sĩ trường dòng đang thuyết giảng trước đám con chiên. Đã không biết bao nhiêu lần Mariela tìm đến anh thú tội chỉ vì giọng nói này.

“Anh vẫn gặp Ramiro phải không? Em đồ rằng chính vì thế mà anh ở đây.”

“Ông ấy có ý xem xét việc kinh doanh khoáng sản. Thứ đá mà người ta gọi là Coltan ấy.”

“Em chưa từng nghe thấy bao giờ. Đó là thứ đá quý lắm hả?”

“Không. Người ta dùng nó chế tạo vi mạch điện tử. Điện thoại di động, máy tính, mấy thứ kiểu đó.”

“Ông lão làm việc không ngừng nghỉ nhỉ.”

“Biết thế. Tôi cũng bảo ông ấy như vậy. Ông ấy vẫn còn nguyên cả núi tiền.”

“Còn anh thì sao? Anh có tiền không? Anh lập gia đình chưa?”

Duque không đáp lời, cúi mắt nhìn xuống đôi giày. Anh di di đôi chân như thể ngứa ngáy vì có kiến bên trong. Mariela càng lúc càng mất kiên nhẫn. Cô muốn lái câu chuyện sang hướng khác.

“Làm thế nào mà anh nhận ra em lúc ở công viên? Đôi môi em? Cổ em? Anh đã từng khao khát hôn lên đôi môi này đến thế nào, nhưng chẳng bao giờ đủ dũng khí để làm điều đó. Lúc ấy em tưởng rằng anh đã sẵn sàng, cái tối trước hôm chúng ta gặp Ramiro ấy.”

“Tôi không phải dân đồng tính.”

“Em cũng thế. Em chỉ là một người phụ nữ, Duque. Hãy nhìn em đi. Anh có thấy em thay đổi chút nào không? Em mãi mãi là như thế, dẫu có phải đợi thêm bao nhiêu năm nữa.”

Duque ngồi lún sâu vào ghế. Anh cảm thấy bứt rứt khó chịu. Tì khuỷu tay lên gối, bàn tay nắm lấy mớ tóc trên đầu. Anh ngước nhìn Mariela.

“Chết tiệt, thì ra cô đã sắp xếp cả rồi. Thảo nào cô hài lòng đến thế khi lão già phái chúng ta đến nhận nhiệm vụ ở đây.”

“Không. Anh hiểu lầm rồi. Ý tưởng chạy trốn đến với em đêm hôm đó, chính tại nơi này. Đó là sự thực. Không thể chối bỏ. Lúc ấy em không hề có ý sẽ gây cho anh những rắc rối với Ramiro. Em rất lấy làm tiếc.”

Mariela biết rằng đã quá muộn để nói lời xin lỗi. Nhưng cô không muốn lại phải chạy trốn thêm lần nữa, nỗi nhớ anh cô đã ôm suốt bao năm. Chính bởi thế mà cô đi theo anh tới tận đây. Nếu trước kia cô đủ cam đảm để nói với anh điều ấy, chắc hẳn anh đã tin cô.

“Người ta đồn thổi rằng em có đủ phương cách để trốn. Thế nên lão mới chẳng bao giờ tìm được em. Lẽ ra em nên chạy tới một thành phố nào đó khác. Đây là một thành phố lớn. Em không cần phải chịu đựng tất cả… những điều này.”

Duque đưa tay vuốt ve gương mặt cô, bầu ngực cô, và luồn cả vào giữa hai đùi.

“Thế anh cũng phải có phương cách gì chứ?”

“Không, em không hiểu. Anh chẳng có nổi phương cách nào để tránh xa được Ramiro. Em còn nhớ Roberta Close không?”

“Đương nhiên. Đẹp, phải thừa nhận là cô ấy rất đẹp. Em nghĩ trông em khá giống cô ấy. Hãy nhìn đôi chân dài của em này.” Mariela duỗi dài một bên chân, liếc nhìn xuống đôi giày cao gót đen. “Giọng em lúc nào nghe cũng cứ the thé ấy nhỉ.”

“Nếu mà được sinh ra với miếng táo Adam mắc cổ họng như anh, em có phẫu thuật thế nào cũng trở thành vô dụng cả.”

“Anh vẫn ghét nó đến thế cơ à. Anh lúc nào cũng ghét cái này cái nọ. Em đã phải chạy xa khỏi anh để không bị ghét đấy.” Cô ngước nhìn lên lân nữa. “Chắc chỉ có cái công viên kia là không bị anh ghét thôi nhỉ? Anh vẫn thích tới đó lắm, phải không anh?”

“Vậy em thì sao? Sao em lại bám theo anh. Em không sợ ư? Sao em lại đến tận đây?”

Duque suýt chút nữa đã buột miệng gọi tên người phụ nữ là Jairo nhưng anh kịp thời khựng lại. Họ đều đã mệt mỏi rồi. Ham muốn vui vẻ bốc đồng vừa rồi đã biến đi đâu mất.

“Tại em chợt nhớ tới nguyên tắc chúng ta từng cam kết,” Mariela nói.

“Nguyên tắc nào?” Duque hỏi.

“Anh phải biết rõ nhất chứ. Chính anh đã đặt ra mà. Không bao giờ giết phụ nữ. Em từng nghĩ điều ấy thật ngốc nghếch, nhưng anh cứ khăng khăng một mực. Anh nói ít nhất chúng ta cũng phải có một nguyên tắc nào đó chứ, chỉ cần một nguyên tắc duy nhất thôi.”

Mariela đứng dậy. Cô bắt đầu lo lắng khi trông thấy đồng tử Duque giãn ra.

“Anh định tới đây sẽ làm gì? Anh có thể ở lại đây mà, cùng em. Ramiro chẳng có nhiều ảnh hưởng đến như anh nghĩ đâu. Ông ấy chỉ ra oai được với mình anh thôi. Anh lại muốn đi đào đá như trước kia nữa sao? Anh còn gì ở chỗ ấy đâu? Chúng ta có thể cùng nhau tới Los Angeles. Mấy người làm nghề diễn viên chuộng đồng hồ lắm. Anh có thể kiếm giúp em một cái Patek Philippe. Số 3449 chẳng hạn. Chỉ có đúng ba chiếc được đánh mã này trên toàn thế giới thôi đấy. Chỉ cần tìm ra nó thôi là chúng ta sẽ được nghỉ xả láng suốt phần đời còn lại.”

Duque không nói gì. Ánh đèn neon rọi qua ô cửa, chiếu sáng một bên gương mặt anh. Mariela quay qua nhìn cái cặp táp, nhất định không để câu hỏi trôi vào câm lặng.

“Nói đi, tới đây anh sẽ làm gì hả Duque?”

Trong một chốc, anh do dự. Nhưng khối cầu kim loại bất ngờ trở thành cứu viện cho anh, lên tiếng thay anh. Anh lại trông thấy tương lai đang chờ đón mình phía trước. Đó là cái chết và sự hủy diệt. Anh rút súng. Chiếc vòng đồng lóe lên một tia kì quái. Anh nhằm nòng súng vào giữa ngực cô, hướng điểm nhắm là chính giữa hai bầu ngực giả, dịch xuống một chút bên dưới động mạch cổ. Anh không được bắn thẳng vào mặt cô, đó là lệnh của Ramiro.

Rừng rậm đang đợi anh phía xa kia. Chưa bao giờ anh thấy mình cần duy trì việc uống vitamin như bây giờ. Mình sẽ không đeo vớ nữa, anh thầm nhủ. Có lẽ anh sẽ cứ để nguyên chân trần như thế mà đi.

Thái Hà (dịch theo bản dịch tiếng Anh của Nick Caistor)

 

“Em mười sáu tuổi trăng mười sáu/Áo lụa phơi buồn sân gió xưa…”

Thì ra từng tháng ngày sống nơi kí túc xá còn ở lại mãi trong mình dằng dai đến thế. Trong buổi chiều muộn thiếp đi nặng nề, tỉnh dậy để nhận ra lại vừa bị kéo trôi về quãng ấy lúc nào không hay. Dáng nằm co. Gió lạnh thổi qua kẽ cửa. Những thanh âm vào tối xôn xao. Nặng nhọc bất động sợ dậy để khớp vào nhịp cũ. Một lần nữa muốn bỏ rơi mình trong trạng thái không mê không tỉnh, nỗi nhớ nhà đột ngột đến như xưa. Hóa ra ta mãi sống giữa những cảm giác thảng thốt không đầu cuối ấy. Sống có phải là những kiểu hoang mang thay phiên đến rồi đi? Có phải những cơn mở mắt e thấy mình sợ hãi. Có phải miên miết thu gom từng ám ảnh rồi chực chờ dội lại như mỗi đợt gió về? Phải rồi, ta mỉa mai nhẹ tênh cái thời xưa, nhưng cứ sống quẩn quanh hoài với những xúc cảm nhom nhóm thành hình từ một tuổi mười sáu xa nhà. Những thảng thốt không ai, những ngọn nguồn trốn tránh, những ao ước trở về, những giấc không mơ chực khóc. Tất cả, vậy là, đều được khởi từ ngày xưa đó sao…

Eos, lời nghĩ lúc bình minh

Giấc mơ bám sát gót không thể xua đuổi. Ta chỉ biết phủ chăn xây tường. Bị cơn trầm uất sáng trong vụt hiện mỗi giờ thức giấc lôi xềnh xệch đến đường biên mong manh tột cùng của thực lẫn mơ. Đôi mắt mở vội chạm vào ánh sáng, ta biết ta đang trong cõi. Ta nghe thấy nhịp tim và hơi thở mình đổi trao nơi cõi này. Một cõi đã thân quen đến đều đặn nhịp nhàng sau mỗi lần trở lại từ vô vàn chuyến lang thang vào tối. Ta biết kẻ lấy dao tự rạch những đường thân thể thực tình mang ham muốn nguyên khôi. Như mỗi sớm mai ta tự nắm lấy tay mình để cố hiểu rằng ta có thật. Rằng không thể trốn được đi đâu. Làm sao để biến thành một ảo ảnh, một bóng hình, và cơn sống này sẽ thành cơn mộng? Làm sao để mỗi lần chợt tỉnh là một lần bước vào mơ? Ta chỉ biết co cụm đến khốn khổ khi nhận diện sự tồn tại nghiễm nhiên vật chất của mọi thứ quanh mình. Thứ nào cũng cạnh nhọn đường cong, thứ nào cũng lầm lì đe dọa, thứ nào ta chạm vào cũng nặng nhẹ cứng mềm, cũng mồn một đến làm đau. Muốn ngồi ghế tựa bàn mà sợ lời nhắc nhở về nông nỗi thân mang. Muốn bước đi mà lo cơn tuyệt vọng ập đến vì sức nặng. Ta là vật chất thật thà, không nương ẩn được. Là da thịt thuần, không biết giấu đi đâu.

Trong khi ta tẩy xóa mọi thứ ôm mang để nhẹ phần trọng lực, để xác thân bớt phần nặng trĩu mà thành nhẹ nhõm mỗi lần gượng dậy lúc sớm mai; vô  tình ta lạc bước vào cơn mê mới. Không kịp chuẩn bị tinh thần, ta bị ánh sáng tấn công, rồi lập tức, bóng đêm ập tới. Ta lảo đảo trong cả nắng quái yêu ma lẫn mịt mùng màn tối. Lạc chân khỏi mọi con đường, lao theo những bất thần cực độ. Như người ta thả mình vào anh túc lưu ly. Chính khi ấy ta được thành ảo ảnh. Một ảo ảnh tìm bắt ảo ảnh. Cơn ngất ngây sở đắc thành công hoang tưởng bứng nổi mình khỏi hiện hữu thực tồn hòng nhẹ nhõm trước tinh anh.

Trong cơn điên cuồng tìm lối vong thân ta không biết đang tự dìm mình sâu hơn vào khốn khó. Ta Kim Kiều hỏi trọ cách rào tìm hoa, lặn lội ngược xuôi về nẻo Lam kiều, cũng Vân Kiều trâm đồ để lại làm tin, cũng rời chân nhất mực vì nỗi trêu ngươi của thói khuynh thành…

Thôi thì cũng lao đao trọn vẹn đủ đầy cho kẻ kiếp nào không thương đi thương kiếp trước, hoa nào không xót đi xót hoa Kiều, phận nào không chiêm đi chiêm phận bạc.

Nghề riêng nhớ ít, tưởng nhiều

Xăm xăm đè nẻo Lam kiều lần sang

Thâm nghiêm kín cổng cao tường

Cạn dòng lá thắm, dứt đường chim xanh

Lơ thơ tơ liễu buông mành

Con oanh học nói trên cành mỉa mai

Mấy lần cửa đóng then cài

Đầy thềm hoa rụng, biết người ở đâu?…

The Hermit (Xin lại được bắt đầu từ nỗi cô đơn…)

ở Sài Gòn những ngày nóng nực và cảm nhận cơn ngất ngây trời đất bằng những trận bức bối thoáng qua. Ta vào ra bao chốn lạ quen vừa chớm biết, không một ý niệm hẹn hò trở lại hay từ biệt chia xa. Ta chạy theo những hình bóng phấn hương, những đào kép cũ mới, những bàn tay góp tạo lóng lánh áo tuyền kim cương nhẫn ngọc. Ta tìm Sài Gòn một thưở son vàng ngầm ẩn những làn sóng ngoại kiều và lặn ngụp trong vải vóc lụa là ánh nhòa sân khấu của hôm nay…

Ta kiếm một quán trọ lạ, trên con phố lạ, một khu quận bao lần trước chưa từng có dự định đặt chân. Ta chấp nhận lang thang dọc dài thành phố, cũng nhón nhén phóng tay thử đôi lần như muốn học đòi một khách phong lưu. Ta đi trong mùi hương tàn trong màu son rã trong màu phấn phôi, chỉ còn thanh âm thuần khiết ngọc ngà vàng bạc. Ta ôm ấp từng đường nét âm giai phi hình hài như nỗ lực trầm kha níu kéo bức chân dung chưa một lần chạm tới. Lẽ nào cơn đau của gặp gỡ đầu tiên là có thật?

Ta ghé ngôi nhà xanh, con đường vắng. Ta đặt chân vào chốn quỳnh mai. Biết ngắm gì hơn một thời quá vãng còn vương. Biết nhìn gì ngoài bức ảnh nhạt nhòa màu áo đỏ. Ta thấy người mờ mờ hiện diện qua từng đồ vật vỏn vẻn trước mắt, những bàn ghế đơn thuần, những cốc chén loanh quanh. Không gian bung mở sau cánh cửa lưới, ta ngồi đợi như không dám chờ mong một tiếng bước chân từ góc lầu vàng.

Sài Gòn lần này, ta biết màu vàng của nắng là màu kim tiền, ta biết sức nóng đất trời là cái hâp hấp sẵn sàng bùng lên khôn lường của cơn nhiệt cuồng dữ dội. Ta nghe người Sài Gòn hồn nhiên thốt lời rỉnh rảng tiếng đồng, nhìn qua mắt họ những men say. Phải rồi, làm sao ta đã vội quên? Ta đang ném mình vào nơi đô hội đúng nghĩa, chốn phồn hoa từ bản chất, ăn chơi từ bản tính, bốc rời từ thói sống. Những người từ hào quang sân khấu bước ra, từ hậu đài sân khấu lui xuống, từ kịch trường khắp xứ trở về… Những người đã khoác lại tấm áo đời đã tẩy bỏ màu trang điểm, vẫn không âm sắc nào thiếu vị xa hoa.

Ta thấy thứ tình yêu Bắc Kì ta mang vào đây nhỏ bé tầm thường quá đỗi. Ta có gì ngoài thứ tình yêu sau trướng sau rèm ngó ra, không trông mặt mà chỉ động lòng nghe tiếng. Còn có gì ngoài nông nỗi dịu dàng lúng túng, dùng dằng đi ở, luấn quấn bần thần bên bức tường rào…

Henderson, Ông hoàng mưa – Những nhập nhằng phi/-nhân-tính

Henderson, ông hoàng mưa. 1959. Của Saul Bellow. Bản Tiếng Việt do Thiếu Khanh Nguyễn Huỳnh Điệp dịch.

Biết bắt đầu từ đâu, từ chi tiết nào, tình tiết nào, nhận định nào, trải nghiệm nào, băn khoăn nào, tương đồng nào, sáng rõ nào, lờ mờ nào, thích thú nào, nghi ngờ nào,….để viết về nó?

Chưa biết. Mà cũng có thể là chưa nghĩ ra. Sự bắt đầu khó thật. Thôi thì bắt đầu từ sự hoài nghi của chính mình vậy, thế nghĩa là cũng bắt đầu từ một sự hi vọng đấy! Cũng có nghĩa là bắt đầu từ lời của một “kẻ khác”, vừa bác học, lại vừa mang tính PR, đính kèm chễm chệ trên bìa 4, để thể hiện giá trị, để trước tiên, khiến cho người ta mua nó, và đọc nó. Nguyên văn phần mở đóng ngoặc đơn là “theo Lời tuyên dương của Viện Hàn Lâm Thụy Điển”. Còn nguyên văn bộ phận đóng mở ngoặc kép: “những ý tưởng tràn trề, sự mỉa mai rực sáng, cái hài vui nhộn và sức cảm thông thấu suốt…pha trộn giữa tiểu thuyết giang hồ phóng dật với sự phấn khích về nền văn hóa hiện đại của chúng ta, với thể loại truyện phiêu lưu mạo hiểm, với những đoạn quyết liệt và những đoạn bi thương liên tục nối tiếp nhau, điểm xuyết vào những đối thoại triết học, tất cả được triển khai bằng một giọng tường thuật có ngôn từ dí dỏm và khả năng nhìn thấu những sự phức tạp cả bên ngoài lẫn bên trong khiến ta hành động hoặc ngăn ta hành động”. Chắc cũng có thể nhặt nốt một phần nhỏ không nằm trong ngoặc nào cả nhưng vào đây thì buộc phải thêm ngoặc nọ ngoặc kia: “một cuốn sách vừa đầy ắp đời sống thực tại vừa mông lung sâu thẳm, khó dò và thật khó quên”. Không phải là đang muốn cố lắp ghép các quãng tụng ca bóng bẩy vào bài viết để đạt đến kĩ thuật tự lăng-xê ngòi bút làm gì cả đâu. Chủ yếu là đang muốn một lần nữa gọi lại được rất nhiều tính từ tuyệt vời đã được dùng để nói về tác phẩm ấy. Tôi nghĩ Ông hoàng mưa thực sự xứng đáng với tất cả những tính từ mạnh nhất, cuồng nộ nhất. Đúng hơn, nó xứng đáng với những động tính từ của sự cực điểm. Có thể kể ra hàng loạt từ đoạn trích vừa rồi: tràn trề, mỉa mai, rực sáng, vui nhộn, thấu suốt, phóng dật, phấn khích, mạo hiểm, quyết liệt, bi thương, triết học, dí dỏm, thấu, phức tạp, mông lung, sâu thẳm, khó dò, khó quên,…Nhìn từ góc độ bình thường thì cuốn tiểu thuyết ấy, tôi nghĩ, không được…bình thường cho lắm. Nó viết về những nhân vật chẳng bình thường tẹo nào (mà Bakhtin gọi là “nghịch dị” thì phải), các nhân vật ấy lại toàn làm những điều kì vĩ nực cười, và chỉ có thể nói về nó bằng những ngôn từ hơi bị “phi thường” một chút (có lẽ nói “bất thường” sẽ hợp hơn “phi thường” ấy chứ, bởi lẽ nó hoàn toàn không phải là tính sử thi gì ở đây cả). Tác phẩm nhiều chất văn xuôi hơn là sử thi, và cũng nhiều chất trữ tình hơn. Nhưng cũng chẳng thể rút nó vào một hay vài bản chất. Là bởi đầy những tâm sự nhưng cũng chẳng xếp được vào tính trữ tình, thậm chí gọi nó bằng cụm “kể lể linh tinh” thì cũng đâu phải là không hợp lý? Và như đã nói, nhân vật toàn muốn làm, cần làm, sống vì, chết vì những điều kì vĩ, lại còn đầy những là gian khổ, khao khát, đau đớn nữa; chỉ tội “cái cười” vẫn cứ ẩn náu đâu đấy sau đó. Người ta đôi khi tưởng sẽ bắt gặp (và chính nhân vật cũng tưởng là mình như thế) một kẻ anh hùng. Không sai nhưng chưa đủ. Henderson là một anh hùng ngờ nghệch (dỡ bỏ motif anh hùng ca cũng như motif anh khờ truyện cười), một chàng ngốc lúc thì gặp may lúc không gặp may (dỡ motif chàng ngốc gặp may); một kẻ phương Tây, da trắng không còn là đang “đi khai hóa” mà chỉ định đi tìm sự bù trừ kết nối giữa các nền văn minh (tuy mục đích nghe có vẻ cao thượng hơn) nhưng cũng thất bại thảm hại,…Bằng tất cả những sự phá vỡ ấy, tôi muốn nhấn mạnh hơn cả về Henderson như một kẻ ở bất cứ nơi nào cũng cố vượt thoát khỏi cái “bình thường”, tất nhiên, cũng sẽ sai hoàn toàn nếu quy nó đơn giản vảo cái “phi thường” của mô hình lãng mạn.

Henderson là một hợp thể hỗn tạp. Của sự ngu dốt trưởng giả và thông minh sâu sắc, của thực tại và triết luận, của thực dụng và đam mê, của bạo lực vũ dũng và ngây thơ con trẻ…Một sản phẩm của tiền bạc và sự thừa mứa vật chất, cộng với của quá trình “bạo lực hóa”, “tục tằn hóa” dành cho những kẻ đi ra từ chiến tranh, và của cả những cái “hằng ngày” nhạt nhẽo nhất từ đời sống. Nghĩa là, Henderson là một món tạp-pí-lù của thời hiện đại. Chính tính hỗn thể ấy đưa Henderson trở thành một kẻ nằm ngoài mọi mẫu hình bình thường, nhưng lại cũng dẫn y tới vị trí của một biểu tượng cho các “sản phẩm” của nền văn minh phương Tây. Người xung quanh dễ coi hắn là kẻ bất thường, kiểu: tôi “bị coi là điên khùng…rầu rĩ, lỗ mãng, bạo ngược và hầu như là điên” [tr11]. Vậy mà chính hắn lại đại diện cho tất cả bọn họ, ở khía cạnh nào cũng đạt đến vị trí điển hình cực đoan. Và vì là tổng hợp của tất cả bọn họ trong những dạng thức tột cùng nhất, hắn mâu thuẫn với chính mình sớm hơn và mãnh liệt hơn tất thảy. Cũng vì thế mà hắn lên đường đi châu Phi với một mục đích khác hẳn những kẻ khác. Như cặp vợ chồng anh bạn Charlie của hắn, chẳng hạn. Hắn đi theo tiếng gọi “Tôi muốn, tôi muốn, tôi muốn…”, để thỏa mãn một cơn khao khát chưa thể gọi tên ngày đêm dằn vặt cái cảnh sống cùng vợ con và lũ lợn hiện tại. Nuôi một lũ lợn, là một lũ lợn, thật vậy, như một lời hứa với một người bạn trong quân ngũ khi hứa hẹn về cảnh sống sau này. Nhưng đó không chỉ là một kí hiệu của thứ giấc mơ bình dị thường thấy trong các tác phẩm viết về chiến tranh. Nó không giống như lời hứa hẹn nuôi tôm của Forest Gump sau khi trở về từ những cuộc chiến. Cái cách nuôi lợn của Henderson có phần cay độc hơn nhiều: “khi từ cuộc chiến trở về tôi có ý tưởng sẽ trở thành một chủ trại chăn nuôi lợn, cách đó có lẽ minh họa cho điều tôi nghĩ về cuộc sống nói chung”. Cái nhãn quan nhìn đời thông qua hệ quy chiếu thú vật đó như là lẽ thường của một kẻ từng bị đẩy qua những “cuộc tàn sát đẫm máu” mà chính mình bị biến thành “bia ngắm”. Thế nên, về lại với cuộc sống “có vẻ” thanh bình hậu chiến, Henderson như vẫn cố lặp lại, phơi bày lại cái mô hình của những cảnh tàn sát ấy trong trang trại của mình, bằng sự đổ vỡ, phá hủy, và bằng sự tởm lợm của uế khí: “các pho tượng mua từ Florence và Salzburge đều bị lật nhào. Cả trang trại sực nức mùi nước chua, mùi lợn, mùi cám lơn, mùi phân lợn”. Hay trong cách so sánh và trường liên tưởng của Henderson: “Đi từ New Jersey đến New York bạn có thấy các bãi nuôi nhốt và lối đi của súc vật trông giống như mấy ngôi làng người Đức ở Rừng Đen không?”. Đó là nhận thức về không gian sống. Và đây là sự nhận thức bản thể: “Em không được làm tổn thương bất cứ một con lợn nào…Những con vật này đã trở thành một phần của tôi đó” [tr 36]. Cái phá vỡ những mô hình “quy chuẩn thông thường” ở đây, có thể thấy, là sự xóa nhòa ranh giới giữa tính nhân bản và cái phi-nhân. Đó tất yếu là nhận thức dựa trên cơ sở của sự hoài nghi sâu sắc về (cái được gọi là) tính người. Sự hóa thân phi nhân ấy được biểu hiện ngay từ bên ngoài, trong cách Henderson “mang găng tay và giày bằng da lợn, với một chiếc ví da lợn trong túi…” [tr 23].

Henderson còn sống và nghĩ cả trong hệ quy chiếu Kinh Thánh. Những trích dẫn Kinh Thánh không phải là ít trong Ông hoàng mưa. Lời Thánh Kinh Daniel 4:25 trở đi trở lại như một ám ảnh trong những suy ngẫm vẩn vơ sâu sắc của Henderson về tính phi nhân: “Ngươi sẽ bị đuổi, không được chung sống với người ta, mà phải sống chung với thú vật ngoài đồng”. Nhiều người đã bàn về Kinh Thánh, từ điểm nhìn sinh thái, để chỉ ra sự xung khắc có phần bất công của nó trong cái nhìn về môi trường, về động vật và thực vật, hay nói chung, về vạn vật của thế giới phi nhân. Theo Kitô giáo thì Chúa tạo ra tất cả. Con người cúi đầu trước Chúa, nhưng là kẻ được Chúa ưu ái trao quyền cai trị thế giới tự nhiên. Tự nhiên nói chung và súc vật nói riêng, theo cái nhìn ấy, trở thành nô lệ hạ đẳng. Sống giữa những con vật, bởi thế, trong lời tiên tri Daniel, mang ý nghĩa của một thứ hình phạt đày đọa về danh dự và phẩm giá của nhân tính. Bị đẩy vào thế giới “phi nhân” cũng đồng nghĩa với việc bị vứt bỏ vào tăm tối và u mê, mông muội. Bằng tất cả những biểu hiện của mình, Henderson thường tỏ ra là một kẻ sùng Kinh Thánh. Thế nhưng, như đã nói, y bao giờ cũng vượt ra khỏi những khuôn khổ, không chỉ trong chiều kích thể xác mà còn ở chiều kích tinh thần. Suy nghĩ của Henderson dần dần thực hiện những cuộc “phá khung” về suy tưởng không phải theo cái cách mà những nhà văn thuộc loại “độc thoại nội tâm”, “dòng ý thức”, “vô thức” vẫn thường làm. Mọi suy nghĩ của Henderson hiển lộ linh tinh, và liên thiên một cách rõ ràng, nghĩ như những kẻ tầm thường vẫn nghĩ, chẳng đâu vào đâu, không theo mạch nguồn sâu thẳm thần bí nào mà cũng chẳng phải là sự phá vỡ phương logic tuyến tính kiểu thủ pháp mới. Đó là tất cả những gì lan man, và dễ hiểu, và đôi khi ngây ngô, và có khả năng vượt mọi rào cản trong tư duy để “đa thanh” một cách tự nhiên nhất. Thế là, sau khi dẫn lại lời thánh Daniel, Henderson lại nghĩ đến những dẫn chứng chân thực để tìm kiếm một điều gì đó ngược lại: “Những con lợn nái…chúng cũng bị bướu cổ như phụ nữ vậy…Tất cả những ai nuôi lợn đều biết chúng rất khôn. Việc phát hiện ra chúng thông minh khiến tôi bị sốc…nếu những con vật này thực sự trở thành một phần của tôi thì tôi không còn yêu thích chúng nữa tất là chuyện lạ lắm” [tr 37]. Tưởng như chỉ là những kể lể ngẫu nhiên, nhưng nó đủ sức quay ngược lại với câu hỏi về sự nhập nhằng nhân tính – phi nhân. Những dẫn dắt kiểu khẩu ngữ như “tôi bị sốc…”, hay những cách so sánh nhân tính hóa đều ẩn chứa đằng sau nó sự phá khung nhận thức, mà cụ thể ở đây là khuôn khổ tư duy Thiên Chúa giáo. Đó là một sự đặt lại vấn đề trái chiều ngấm ngầm, là kết quả của cách tư duy bằng bản thân sự kiện và biểu hiện qua những lời lẽ có vẻ ngây thơ ngờ nghệch rất hồn nhiên.

Tiếp tục lấy điểm tựa từ góc nhìn này, tôi muốn nói về chuyến phiêu lưu Châu Phi của Henderson trong đối sánh với một cuộc hành trình kiếm tìm giá trị sống, mà thể hiện trước nhất và rõ nét hơn cả, là kiếm tìm một câu trả lời cho ranh giới nhập nhằng giữa nhân tính và thú tính, nhân bản và phi nhân. Sự thất vọng với cái xã hội “văn minh hiện đại” đã đẩy Henderson tới chỗ gần như mù lòa về các giá trị cuộc sống giữa con người/thú vật, không biết nên tách biệt hay nên đồng nhất, không biết nên khinh bỉ hay nên cảm thông, trân trọng hay chán ghét,…; đã khiến khao khát của hắn hướng đến một vùng đất tuyệt đối nguyên sơ, có thể khiến người ta hoàn toàn “bỏ lại thế giới ở phía sau”. Bởi vậy, Henderson lên đường trong một tâm thế kháng cự tuyệt đối với thế giới “văn minh”. Chẳng khó để thấy được sự “tổn thương” đến thế nào của y khi đi sang châu Phi cùng với cặp vợ chồng một người bạn thân, nhưng lại được trang bị toàn những thứ “mới mẻ và hiện đại về mọi mặt”: máy phát điện nhẹ, vòi sen tắm với nước nóng,…Nhưng cái đáng kể đến là lời giải thích có tính chỉ trích của Henderson: “Charlie, hồi trước chúng ta đi đánh trận đâu có thế này. Phải gió, chúng ta là hai thằng lính già”. Nghĩa là hắn đòi hỏi một sự tương đồng giữa đi châu Phi và đi đánh trận ư? Chỉ đơn thuần là một sự xuề xòa phong cách lính, hay chính bên trong hắn đã lờ mờ hình thành một thứ cảm giác rất sâu về sự tương đồng giữa hai không gian phản văn minh, và phi nhân? Henderson cũng không đi săn lùng những huyền thoại, những ảnh chụp, những thước phim, không chấp nhận dừng lại trong vị trí một du khách ham thích mùi vị của cái “exotic”.  Henderson đến là để sống ở nơi chốn đó, ở châu Phi, như chính y đã từng thực sự sống trong chiến tranh. Đó là những không gian vượt khỏi ngưỡng của cái “bình thường” của cuộc sống, là nơi buộc người ta phải đối mặt và đặt lại nghi vấn về những gì thường được định danh là “nhân tính”, trong ý nghĩa mĩ lệ nhất mà Chủ nghĩa nhân văn cùng với những hệ lụy của nó trao tặng.

Nhất định rời bỏ những người bạn để lên đường cùng với một người bản xứ có vẻ cũng giống như Henderson đang rời bỏ những huyền thoại, những sự kiến tạo huyền thoại, và những kẻ tạo dựng huyền thoại. Dù vậy, vẫn như bất cứ một con người nào, Henderson không thể nào thoát khỏi cái mạng lưới vô số các huyền thoại nhằng nhịt bao quanh chúng ta, định hướng trí tưởng tượng, sự mong đợi và những viễn ảnh mà chúng ta vẽ ra trong huyễn tưởng về một nơi chốn. Tất cả những kẻ lên đường, để thám hiểm, để thắng cảnh, để trải nghiệm, để giải tỏa,…ít nhiều đều mang một ý niệm sẵn có về cái không gian đang chờ đợi mình phía cuối cuộc hành trình: “Mình biết nơi này là một chốn xưa cũ”. Nghĩa là ngay từ đầu tôi đã có cảm giác tôi có thể tìm thấy ở đây những điều xưa cũ, những thứ mà tôi đã thấy khi tôi còn ngây thơ và đã khao khát từ đó…”[tr 159]. Henderson, bởi vậy, tưởng như nỗ lực chống lại những hấp lực của huyền thoại này, nhưng thực chất lại cũng đang rơi vào một thứ huyền thoại khác – một huyền thoại về sự “hoàn toàn”, về tính vẹn nguyên nguyên thủy và sơ khởi, biệt lập tuyệt đối với cái xã hội văn minh phương Tây đang nhân tạo hóa dần mọi thứ mà rốt cuộc, thật nghịch lí, lại đầy chấp chới trước các giá trị nhân tính. Nhưng cuộc hành trình lại phá vỡ hoàn toàn các tưởng tượng có tính nhị nguyên đó, trả lại cho sự nhận thức và trải nghiệm của Henderson một trạng thái hỗn độn và nhập nhằng chân thực của cảm thức đời sống. Trước hết, không hề có một sự chia tách hay đối lập hoàn toàn giữa các không gian, nơi chốn, các nền văn minh. Minh chứng là người đứng đầu hay bậc chỉ huy của những bộ tộc tưởng như “man rợ” nhất mà Henderson đã gặp, thực chất, đều là những kẻ đã từng là những “du học sinh Mĩ”, đã từng là những người nghiên cứu, những nhà khoa học, và hơn thế, còn là những người đã có một lượng thời gian không nhỏ để học hỏi, tìm hiểu, chung sống và hòa nhập với xã hội “văn minh”. Chính bởi vậy mà những kiểu người như hoàng thân Italo, hay vua Dahfu đều là những dạng thức “nước đôi”. Đối với bộ tộc của mình, họ là biểu tượng cho sự uyên thâm sâu rộng, mở mang tri thức và do đó, xứng đáng với những đặc quyền về thứ bậc. Thế nhưng, những con người ấy, khi trở về với cái nơi chốn sinh thành của chính mình, lại bị “khuôn phép hóa” trở lại vào những phong tục, ý niệm, và hơn cả là những hệ hình tư duy của cái cộng đồng mình đã từ đó ra đi rồi lại quay về để giữ trọng trách làm một nhân vật quan trọng trong nó. Nói cho đúng thì chỉ những kẻ được cộng đồng lựa chọn là bậc đảm nhận những “chức phận quan trọng” mới là kẻ có hai lựa chọn, mới là kẻ được lên đường (dù vì mục đích trở về), mới là kẻ được chứng kiến và trải nghiệm hai thế giới. Sự dịch chuyển ngược lại của những kẻ sống nơi đô thị phồn hoa, ở những nơi như “nước Mĩ, nước Mĩ”, giản đơn hơn nhiều. Ở chiều ngược lại, ranh giới giữa hai thế giới không phải chỉ những nhân vật quan trọng mới có quyền vượt qua. Đơn giản, chỉ là tiền bạc và niềm hứng thú với cái lạ, muốn trốn tránh cái trưởng giả hay muốn tô vẽ thêm cho khát vọng trưởng giả. Điều này gần như là một sự bất công giữa việc chuyển di của hai cộng đồng người, giữa hai không gian.

Henderson đã đi trước hết vì những huyền thoại đầy ảo tưởng lôi cuốn. Nhưng những gì khiến người ta thích thú để theo sát mỗi bước chân của nhân vật trầm trọng ấy là sự giải dần các huyền thoại cũ. Cuộc hành trình của Henderson không phải là sự khẳng định lại các lời hứa hẹn từ sách vở, cũng không phải một nỗ lực kéo dài bất cứ một huyễn tưởng về “cái khác” hay về chính mình nào, như những gì Edward Said đã từng nói về các nhà du hành, du lịch, du hí phương Tây. Sự trải nghiệm đến bằng chính việc lựa chọn rất tự nhiên: nhảy vào giữa cái cộng đồng xa lạ ấy để sống trong nó, dù đầy ngây ngô, nhưng đã cho y những gì lạ lùng và mới mẻ nhất, đủ sức rũ bỏ mọi truyền thuyết “hương xa”. Xuyên suốt cả cuộc hành trình của y là việc chứng kiến những mối quan hệ của con người (của những cộng đồng người khác) với thế giới phi nhân. Chẳng phải đây chính là vấn đề lớn nhất, câu hỏi lớn nhất trong suốt quãng đời tồn tại giữa chiến tranh, giữa gia đình, giữa đàn lợn của Henderson trước đó, và cũng chính là lí do sâu kín thúc giục y ra đi? Hay, nói cách khác, mối băn khoăn khởi nguồn cho sự lên đường của hắn, những gì ám ảnh trên mỗi bước đi, và sự va chạm giữa cái hệ giá trị mà hắn là một biểu tượng “cực tả” nhất ở mọi khía cạnh với những hệ giá trị khác, chẳng phải cũng đều mang một nhân tố sâu xa và cốt yếu là quan hệ giữa con người với thế giới phi nhân? Bằng tiểu thuyết của mình, Saul Bellow đã nâng mối quan hệ ấy lên thành nền tảng khởi phát. Không còn là các mô thức xã hội quy định quan hệ của con người với tự nhiên như thế nào, hay tự nhiên phải được tỉa gọt theo những mẫu hình thẩm mĩ nào của truyền thống và văn hóa. Ở đây, ngược lại, con người thiết lập các mối quan hệ cộng đồng dựa vào và thông qua mối quan hệ mà họ tự xác nhận cho mình với cái tự nhiên. Điểm khác biệt của Henderson với những kẻ cuồng tín sùng bái vật chất trong thế giới mà y đang sống, như đã nói, khởi phát từ việc bị tự nhiên làm cho bất ngờ. Y “đốn ngộ” từ chính những đặc tính có phần “lệch pha” với mọi kiểu “cảm nghĩ thông thường” trong khi giao tiếp với những con vật. Để rồi, mọi tạo dựng về tự nhiên và về quan hệ giữa con người – tự nhiên mà “nền văn minh phương Tây” đã trao tặng cho Henderson sẽ còn lung lay khủng khiếp hơn nữa qua những nếm trải của niềm vui, sự tự tin, của ảo mộng và vỡ mộng, của thất bại và thất vọng ê chề, của cả nỗi sợ hãi hay thanh thản…trong suốt cuộc hành trình. Tất cả đều được đẩy lên thành đỉnh điểm. Và chỉ dừng ở đó. Không có một kết luận cuối cùng, không có lời phán quyết duy nhất về “sự thật”, về chân lí, hay ngay cả giản dị hơn nhiều: về cái gì là “hợp lí”. Tất cả chỉ là những trải nghiệm khác, ở những nơi chốn khác, giữa những cộng đồng khác, với những hệ giá trị khác và trong những quan hệ khác.

Người Arnewi – bầu bạn cùng súc vật. Khóc lóc trước sự ra đi của những con bò. Chấp nhận bị hủy diệt vì lũ ếch nhái.

Henderson, trước hết, nhận thức những điều khác biệt: “người Arnewi rất nhạy cảm với tình trạng gia súc của họ, mà họ coi như người thân chớ không phải những con vật nuôi…Thay vì một đứa trẻ đi chăn một bầy gia súc, mỗi con bò cái có hai hay ba đứa trẻ làm bầu bạn…Người lớn còn gắn với gia súc của họ còn khác thường hơn nữa..”.Kẻ lên đường tìm kiếm những cái lạ lẫm, những gì xa xôi chưa ai biết đến ấy đã không mang những định kiến sẵn có của mình ra để áp đặt và phán xét. Những phản ứng trong nhận thức như “điều này phải mất một thời gian tôi mới hiểu được”, “tôi chỉ có thể nhận thức được một phần rất giới hạn về điều này”; và trong cảm xúc: “tôi cũng dao động, tôi động lòng trắc ẩn” đều thể hiện một thái độ cởi mở, tôn trọng và học hỏi thực sự. Phải kể đến cùng với nó là những cuộc vui của lễ hội, sự chia sẻ những suy tư về cuộc sống và cái chết, về hạnh phúc của tồn tại như một vấn đề vừa muôn thuở vừa dễ đồng thuận với những kết luận hướng đến sự sáng sủa nhưng lại đầy mơ hồ, đã kéo con người lại với nhau, đưa Henderson gia nhập cộng đồng mới. Nhưng sự va chạm thực sự giữa các hệ giá trị, tất nhiên, không phải chỉ dừng lại ở những giao lưu kèn trống hội hè, những thứ nghi lễ chào mừng, hay kể cả, những hòa điệu của các loại tình cảm và triết lí có tính “nhân loại” dễ dàng “đồng điệu”. Xung đột giữa các cộng đồng gần như chẳng bao giờ thể hiện qua những điều ấy, ngược lại, nó làm điểm tựa (dù khá ảo và nhiều khi giả tạo) cho sự hòa kết, gắn bó, cho sự nhận biết về cái chung, cái giống nhau. Chẳng phải đã từng có rất nhiều tác phẩm “ca ngợi tình thương, lòng bác ái, sự công bình” đã lấy cái giống nhau ấy làm điểm tựa của hòa hảo? Chương VII không là gì khác hơn một cuộc đón tiếp long trọng theo mô hình chào mừng bây giờ người ta vẫn thường thấy ở khắp mọi nơi: có dịch giả, có tôn vinh, có giao lưu văn hóa, có những khẩu hiệu chung về con người vô cùng xúc động. Thật là một cảnh tượng tuyệt vời khi vị nguyên thủ, quan khách và khách mời, cùng với toàn nhân dân, hay là khi vị nữ vương già Willatale, những bậc quý tộc như bà Mtalba, cùng với Henderson gào lên trước toàn thể khán giả bộ lạc trong một niềm hân hoan say mê về cái chân lí “tuyệt đối” đúng với bất cứ ai: “Grun-tu-molani” (Con người muốn sống). Tất nhiên mọi xung đột, mọi sự va chạm, mọi ý đồ,…chẳng bao giờ được phơi bày qua những lễ lạt ấy, qua sự vui vẻ ấy, sự hạnh phúc hòa hảo thấy mình trong mọi người thấy mọi người trong mình ấy. Cái làm nên mọi đứt gãy là các vấn đề thực tế cụ thể. Người ta sẵn sàng cùng hô khẩu hiệu với nhau hàng trăm lần “Grun-tu-molani” và lần nào cũng xúc động như nhau, nhưng “sống” trong thực tế của kẻ này khác với “sống” trong thực tế của kẻ khác. “Sống” trong định nghĩa của tôi, trong thang bậc giá trị của cộng đồng tôi khác với anh và cộng đồng anh. Cùng vì cái lẽ “muốn sống” mà người ta sẵn sàng chà đạp lên nhau. Tuy nhiên, Henderson là kẻ dỡ bỏ chứ không phải kẻ nối dài các motip thực dân. Saul Bellow, qua hình tượng của một kẻ “dường như điên” và hơi lạc thời, đã phần nào vẽ ra một biểu tượng cho viễn cảnh của một thế hệ người mới đầy hi vọng đang được hiện tại kiến tạo – những con người “toàn cầu” với thái độ sống lí tưởng, những kẻ biết lắng nghe vì hiểu biết và không định kiến; những con người không xuất hiện để tự nhận là “văn minh khai hóa”, để áp chế, kì thị và trục lợi mà là để tự điều chỉnh mình và giúp đỡ những kẻ khác. Không còn sự thật cố định, không mang chân lí duy nhất của mình ra áp đặt, vấn đề chỉ còn thu lại trong suy ngẫm về “tính hợp lí” của hoàn cảnh, của phong tục, của những sự giao lưu nơi những con người khác nhau làm cho nhau sống một cách “hợp lí” hơn: “nơi nào người Arnewi hành động không hợp lí thì tôi giúp họ và ở đâu tôi hành động không hợp lí thì họ giúp tôi”. Mẫu người nhân văn mới mà chính chúng ta đang mong ước và hướng tới còn có thể là cái gì khác ngoài nó? Và ta còn mong mỏi có được một mối quan hệ nào giữa các cộng đồng ngoài hình thức lí tưởng và bình đẳng của những “thỏa thuận giúp đỡ qua lại”?

Những “cái hợp lí” mà Henderson muốn làm ở đây chẳng có gì phải bàn cãi. Không thể nhìn cả một cộng đồng đang chấp nhận bị diệt vong chỉ bởi giữa mùa hạn hán mà không thể động tới nước vì có lũ ếch nhái đang sống ở đó. Henderson muốn khắc phục nó, muốn giúp đỡ họ bẳng những tưởng tượng về cái “hợp lí hơn” của chính cộng đồng mình. Anh ta sẽ là biểu tượng cho cái cộng đồng từ đó anh ra đi, một biểu tượng cứu giúp đẹp đẽ với những giá trị cao quý về con người và tính năng thuốc súng. Con người phải biết tấn công và điều chỉnh tự nhiên, đó là tinh hoa của nhận thức và hành động Mĩ: “những con người vĩ đại…như Slocum, kẻ xây dựng những cái đập tuyệt vời. Suốt ngày đêm hàng ngàn tấm bê tông cùng máy móc làm rung chuyển trái đất đã san bằng núi non và lấp đầy thung lũng Punjap bằng vữa xi măng…”[tr191]. Chính trong sự nhận thức về những sai lệch giá trị là lúc Henderson tự trói buộc vào tính quy phạm của cộng đồng mình nhiều nhất. Y làm tất cả những điều ấy trong một niềm tự tin tưởng tượng về sự hiện thân của chính mình như một sứ giả tuyệt vời mang thông điệp hòa bình, người khẳng định được tính ưu việt của cộng đồng mình trong mắt một cộng đồng khác, người cứu giúp và rồi sẽ được tất cả tôn vinh. Thế nhưng sự thất bại cay đắng của Henderson là gì vậy? Đó chẳng phải là sự va chạm của những mẫu hình lí thuyết với thực tế. Cho dù có được tiếp những nguồn lực nào về các giá trị tinh thần cao quý nào hay về sự công bằng nào lí tưởng nào, người ta vẫn cứ thất bại và trở thành kẻ phá hủy như thường, trước-thực-tế. Không cứ phải là thái độ thực dân, ngược lại, bằng những lí tưởng được tất cả chúng ta thừa nhận là cao quý, tốt đẹp nhất, Henderson đã đẩy một cộng đồng khác vào sự cùng kiệt và tuyệt vọng hơn cả tình trạng bế tắc trước đó. Có lẽ thực chất không phải người ta đã ôm giữ trong mình những quan niệm nào, lí tưởng nào, mà người ta đã làm những gì, đó mới chính là điều mang tính quyết định và quan trọng nhất.

Người Wariri – ra lệnh cho tự nhiên bằng sức mạnh.

Người Wariri được định nghĩa là những kẻ độc ác hơn, dữ dằn, hung tợn hơn, nhưng ngược lại, được tất cả những người bản xứ đồng thuận coi là một cộng đồng “may mắn hơn”. Chẳng thể nói được đây là một mệnh đề nghịch lí hay phi lí gì cả. Thực chất đó là một hệ quả nghiễm nhiên. Kẻ ác hơn tất yếu sẽ khó bị hại hơn, có bản lĩnh và sức kháng cự cao hơn. Trước tiên là bởi nó có khả năng tự bảo vệ chính nó trước những “người khác”, và sau đó là tự bảo vệ được chính nó trước tự nhiên. Henderson – kẻ phá hoại, bởi vậy, có thể hoàn toàn yên tâm, khả năng gây bất hạnh gần như là không còn cơ hội để xảy ra được nữa. Chẳng những vậy, khác với sự dễ tổn thương có phần yếm thế của người Arnewi, đó là một thứ cộng đồng tự giành quyền điều khiển mọi thứ. Henderson rồi sẽ nhận ra tất cả những gì y đã trải qua, tất cả những cảnh tượng y tận mắt chứng kiến, tất cả những xác người mà y gặp,…đều là một “màn kịch sống”. Cuộc sống gần như được sắp xếp hoàn toàn bởi những ý đồ, nó dùng phép thử với y, khuôn ép y vào những trường hợp, thúc đẩy y trong những lựa chọn. Nó đánh thức cái khao khát muốn làm nên “tích sự”, và mơ ước cháy bỏng kiểu Don-Kihote được “đi giang hồ hành hiệp” của y, chuyển mọi điều khiển vào cơ chế tâm lí tự thân. Nó ví dụ những thất bại giả tạo, cung cấp những cảnh cáo mập mờ, cuối cùng, khép y vào thân phận “Ông hoàng mưa”. Henderson, từ chỗ dùng hết vốn kiến thức vững vàng về vấn đề mưa gió thu nạp được từ chồng tạp chí Scientific American mà vợ y đặt dài hạn lúc ở nhà, đầy tự tin chơi trò cá cược để khẳng định cái chân lí khoa học về sự ‘không đời nào có thể mưa’, đã được chuyển hóa dần thành một kẻ mang chức năng cầu đảo, kẻ tin tưởng rằng chính mình đã tự tay đem mưa về cho trần thế một cách phi lí bằng sức mạnh cơ thể.

Thế giới tự nhiên trong mắt người Arnewi không có các vị thần, chỉ có các cá thể. Những đứa trẻ sẽ trông nom một “anh chị em bò” của gia đình nó. Họ khóc vì một con bò bị chết, hai còn bò bị chết, ba con bò bị chết,…lần lượt các con bò bị chết. Lũ ếch nhái (dù cũng có một lời nguyền huyền bí đã gửi chúng đến) nhưng được họ nhìn như những sinh thể. Quan trọng nhất là không được “đụng đến” những sinh thể. Tự nhiên, với người Wariri, ngược lại, không phải ở các sinh thể, mà là ở các vị thần. Người Wariri tự xác nhận cho mình một mối quan hệ sòng phẳng với thế giới thần thánh của tự nhiên. Cũng chính qua đó mà bộ lạc này tự bảo vệ và bảo đảm cuộc sống của chính mình. Đối mặt với cùng một thiên tai, cách ứng xử của hai cộng đồng khác nhau hoàn toàn. Người Arnewi chỉ biết khóc lóc trước sự hủy diệt của hạn hán, không dám đấu tranh sinh tồn cả với giống loài ếch nhái. Cái thiêng liêng, với bộ tộc này, hiện thân ở tất cả mọi cá thể động vật. Người Wariri, trái lại, lập tức thỏa thuận với một thứ thần thánh điều khiển mọi cá thể và tách biệt khỏi mọi cá thể. Họ hi sinh không thương tiếc những sinh thể sống để hiến tế cho thế giới thần thiêng của tự nhiên. Họ lập tức sắp đặt mọi việc để tự lựa chọn một “ông hoàng mưa” của chính mình, thay thế vị trí tối cao cũ đã bị lung lay của nữ hoàng mưa. Cả hai ông/bà hoàng này đều rất giống nhau. Henderson, với sự ngờ nghệch và bản tính hoang dại, với sự xấu xí xồ xề của phản thịt ngoại hình, gần như là một đại diện thay thế thích đáng, gia nhập vào hệ thống cai trị không khí, núi non, lửa, cây cối, gia súc,…Khi hiến tế không mang lại kết quả như mong đợi, lễ cầu mưa của người Wariri thực sự đã biến thành một cuộc lật đổ, giải thiêng tự nhiên đầy nhạo báng, coi thường và thù hận. Những bức tượng thần xấu xí hay chính là thứ tự nhiên bất tuân mong muốn của cộng đồng người bị đánh đập, chà đạp và khinh thường. Thái độ khó chịu coi thường ấy tất yếu sẽ dẫn đến sự bắt buộc phải thay đổi. Với họ, tự nhiên cuối cùng rồi cũng phải phục tùng và vâng lời con người. Bằng sức mạnh cơ bắp, họ tìm kiếm một khả năng ra lệnh khiến tự nhiên hoàn toàn khuất phục. Và rồi mưa đến. Hoàn toàn khác với cuốn tạp chí cẩm nang sống mà Henderson bao giờ cũng mang trong đầu. Nhưng làm thỏa mãn khao khát chứng tỏ mình và sự kiêu căng khẳng định việc một “con người đích thực” có thể làm gì lúc nào cũng ám ảnh trong y. Bằng cách vuốt ve chính cá nhân, Henderson dần bị nhập vào lối tư duy của người Wariri. Nếu như trong khao khát được trở thành vị cứu tinh của bộ tộc người Arnewi, Henderson tự khẳng định và đề cao cái tôi như hiện thân cho cộng đồng của riêng mình, với một hệ giá trị khác; thì người Wariri lại khiến cho y trở nên giống hệt họ. Sức mạnh lôi kéo ấy có lẽ chính là năng lực, là sự may mắn mà chỉ một cộng đồng mạnh mới có thể có được.

Nhưng trời mưa là một việc nằm trong dự định của Dahfu – vị vua “bán hoang dã”. Từng học tập như một nhà khoa học ở phương Tây. Ông không để cho thứ ngôn ngữ tiếng Anh từng được học bị đóng băng như những gì thừa thãi hoàng thân Italo mang về cộng đồng mình. Anh ngữ đúng là đã có mặt khắp nơi, ở cả những vùng tận cùng xa xôi nhất, như một biểu tượng tuyệt vời không thể phủ nhận của “toàn cầu hóa”. Nhưng thứ ngôn ngữ đó bị vô hiệu ở cộng đồng Arnewi. Kẻ duy nhất đi học trở về và không có người giao tiếp. Bất cứ một cộng đồng nào cũng ra sức cố kết lối tư duy của các thành viên, khiến sự lên đường đôi khi thành vô nghĩa. Người ra đi khi ấy chỉ dừng lại ở vị trí của một nhân chứng. Sự ưu việt được khẳng định chỉ ở việc chứng kiến nhiều hơn. Nhưng Dahfu là một vị vua có khả năng chống đối lại hấp lực của truyền thống. Về cùng ông là sách vở. Sự trở về không đồng nghĩa với việc cắt đứt quan hệ với một thế giới khác, hay, cuộc đối thoại với một hệ tư duy khác. Dahfu không chấp nhận việc bị quy thuận hoàn toàn trở lại theo các chuẩn mực và niềm tin cộng đồng. Đôi khi sự phản kháng ấy nấp bóng đằng sau một thực tế nghiễm nhiên. Chẳng hạn như trong lễ cầu mưa, sự đồng thuận giữa cá nhân với cộng đồng chì nằm trên kết quả bề mặt. Những lí do khác nhau tiềm ẩn đằng sau khiến cho sự sự ổn thỏa ấy không bền vững. Việc trùng khít các kết quả thực tế phụ thuộc rất nhiều vào yếu tố ngẫu nhiên. Và chỉ cần một khi sự ngẫu nhiên ấy không xảy ra nữa, xung đột giữa cá nhân và cộng đồng sẽ là điều tất yếu. Những kết luận về linh hồn của sư tử là một trường hợp như vậy. Đó là một kết luận quan trọng của toàn thể cộng đồng, quyết định vận mệnh và sinh mệnh vị vua cai trị họ. Dahfu bị bộ lạc mình buộc phải bắt được Glimo, con sư tử được cho là mang linh hồn của vị vua quá cố. Tiêu chí của cộng đồng Wariri về phẩm chất của một vị vua đương nhiệm là người chế ngự được mọi sức mạnh tương đương từ quá khứ đang hiện thân trong sự hoang dã đầy nguy hiểm của hiện tại, khẳng định chính mình là kẻ thay thế xứng đáng. Dahfu, ngược lại, cũng lên đường tìm bắt sư tử nhưng là vì muốn tự tìm kiếm cho riêng mình một phẩm chất mới, vượt lên trên những giới hạn của nhân tính. Cả cá nhân và tập thể, dù từ những lí do khác nhau đều hướng đến hành động bắt sư tử. Nhưng kết quả thực tế của hành động cá nhân không còn trùng khít với kết quả mong đợi của cộng đồng. Con sư tử được mang về là Atti chứ không phải Glimo. Sự ngẫu nhiên may mắn đã không đến.

Henderson được Dahfu đưa vào lớp học hỏi các đặc tính sư tử. Sự kiện này không giúp y tìm được câu trả lời cuối cùng cho việc định nghĩa cái gì là “nhân tính”. Nó chỉ nhấn mạnh thêm sự nhòe mờ đến độ không thể xác định được của “khuôn mặt người”, phơi bày một lằn ranh mềm dẻo phân định nhân tính/phi nhân. Quá trình thuần hóa là quá trình Dahfu đang truyền cho sư tử Atti tính người, ngược lại, thông qua Atti, ông tự cộng thêm cho mình những phẩm năng sư tử. Mối quan hệ giữa Dahfu và Atti khá bất thường trong những quy chuẩn về quan hệ người – thú. Không khó để nhận ra sau những tiếng gào thét can ngăn là sự ghen tuông của các cung nữ mỗi khi Dahfu xuống hầm sư tử. Đó là hai kẻ đã tự dung nạp nhau, biến nhau trở thành đồng loại, và Atti trở thành ái phi nơi cấm cung. Sự hoảng sợ tột cùng ban đầu của Henderson khi bị dẫn dắt vào trò chơi nhân tính này là điều dễ hiểu. Y tự biết mình không thể có được một mối quan hệ kiểu như thế với bất cứ một con sưu tử nào. Nhưng vấn đề có lẽ không chỉ nằm ở những con sư tử. Sau cơn sợ hãi, tất cả những gì y chắt lọc được rút lại trong một mối tương quan chung giữa người và thú. Dahfu và sư tử, thực chất, không khác mấy so với Henderson và đàn lợn. Cả hai đều là sự nhòe mờ trong cảm giác về nhân tính. Không ai có thể phủ nhận được một mối quan hệ thân thuộc (nhiều khi là đáng lo ngại) của chính mình trong tương quan với những con vật xung quanh.

Tình trạng “bán hoang dã” có vẻ là một thứ tình trạng thực sự lí tưởng cần hướng đến. Nhưng tính nước đôi ấy không đảm bảo được cho hạnh phúc và sự yên ổn cá nhân. Để tiếp tục tồn tại giữa cộng đồng, Dahfu buộc phải tuân thủ những luật tắc cơ bản nhất của truyền thống. Sự tự do của ông phụ thuộc vào sự tuân thủ. Trong trận chiến đấu cuối cùng, Dahfu bị sư tử Glimo quật ngã. Nó gần như là sự thất bại đau đớn trước một thứ quá khứ, một thứ truyền thống còn hiện diện đầy hoang dại và tàn bạo trong hiện tại. Cái chết thảm hại và cô độc của Dahfu là sự sa thải tuyệt đối của cộng đồng với một cá nhân không tuân thủ quy tắc và thất bại trước những đòi hỏi của tiêu chuẩn chung.

Henderson bỏ trốn Wariri, bỏ trốn khỏi chức phận Ông hoàng mưa, cũng là bỏ trốn sự điều khiển đáng sợ của một cộng đồng tàn bạo. Lần trước ra đi trong xấu hổ và nhục nhã. Lần này trốn chạy trong sợ hãi. Y trở về, ôm trên tay một con sư tử con. Nó hứa hẹn một tương lai của sự hòa trộn đa đặc tính, có ý nghĩa như một hành động mang tính biểu tượng: một nỗ lực mang tâm hồn sư tử về cái thế giới “văn minh” vốn được Henderson mô hình hóa bằng chuồng lợn. Nhân tính, như thế, không phải là một định nghĩa cố định, cũng không thể xuất hiện như một chuẩn mực mà xã hội nào cũng rêu rao hướng tới. Việc chửi mắng kẻ khác là thú vật vốn chỉ được nhìn như thiếu tôn trọng người khác, thực ra, phải nói thêm rằng nó hàm ẩn một sự thiếu tôn trọng cố hữu và vô thức với loài vật. Nói đúng hơn, loài người lẫn giữa những loài khác trong một đường viền nhân tính mềm lỏng và linh động. Điểm quan trọng không phải là việc chỉ ra con người khác con vật ở đâu, mà mỗi người có sự giao thoa như thế nào với các loài động vật. Và lựa chọn của Henderson là một thử nghiệm đáng kể, là sự đề xuất một giải pháp, có lẽ, nhiều hi vọng.

Đại gia Gatsby giúp chúng ta giải nghĩa Trump như thế nào

Giới thiệu nhỏ: Đại gia Gatsby của Francis Scott Key Fitzgerald là câu chuyện tuyệt vời về một tình yêu đã mất được tìm lại trong chóng vánh, những cuộc hôn nhân trên đà tan vỡ, một tội ác được giấu kín, những mất mát dữ dội, sự đổ vỡ của lý tưởng lãng mạn thời thanh niên nông nổi, cơn vỡ mộng của kẻ mới đặt chân tới New York ôm trong mình “giấc mơ Mỹ”, và cuối cùng, là câu chuyện về hồi tàn của một thời kì thịnh vượng chỉ còn trong huyền thoại. Tất cả được kể bằng giọng biện luận và đối thoại tinh tường, cùng một hệ thống hình tượng sống động, lôi cuốn. Sẽ không khó để người đọc liên tuởng tới những điểm tuơng đồng giữa cuốn tiểu thuyết với cuộc đời của chính Fitzgerald. Thập niên 1920 – bối cảnh chính của cuốn tiểu thuyết, cũng là một mốc quan trọng trong cuộc đời Fitzegarld, vốn được biết tới như là “Thập niên vang dội” (Roaring Twenties) hay “Kỉ nguyên nhạc Jazz” (The Jazz Age) – “Thời đại vàng” trong lịch sử nước Mĩ vì sự bùng nổ kinh tế sau chiếu tranh thế giới thứ nhất. Đại gia Gatsby, ở mức độ nào đó, đã ghi lại chính những trải nghiệm của tác giả trong thời kì nhiều biến động ấy. Hiện thân của Fitzgerald phần nào được gửi gắm qua hình tượng người kể chuyện Nick Carraway, với sự tương đồng từ nơi chốn xuất thân (Minnesota) tới việc theo học tại những trường đại học danh tiếng hàng đầu nước Mĩ. Tình bạn và nỗi ám ảnh của Nick với Jay Gatsby là một phần quan trọng của cuốn tiểu thuyết, nói như Barbarese, “câu chuyện về tình yêu đích thực chỉ là phần bên trong của chuyện kể cảm động về tình bạn giữa Nick và Gatsby” (The Sewanne Review). Nỗi ám ảnh nặng suy tư về hình mẫu kiểu Gatsby này dường như là một ẩn dụ cho chính tham vọng vượt thoát của Fitzgerald khỏi sự tha hóa của xã hội đương thời cũng như sự đổ vỡ của những hứa hẹn về một “giấc mơ Mỹ” sau thế chiến. Daisy – nhân vật nữ yêu kiều thuộc tầng lớp thượng lưu, trong tác phẩm, là tượng trưng của vẻ đẹp và sức cám dỗ của giấc mơ ấy, đồng thời cũng là sự bất tín và bội phản của mọi hi vọng và hứa hẹn. Cũng bởi thế, cuốn tiểu thuyết có sự ứng chiếu lạ lùng với một nước Mỹ đương đại, khi những mộng tưởng huy hoàng về tự do và công lý từng được Obama hứa hẹn đã sụp đổ hoàn toàn khi bước vào thời đại của một Donald Trump tự đại, trao mọi quyền lực về tay đồng tiền, thượng tôn da trắng và kì thị chủng tộc.       

Rosa Inocencio Smith

Có một sự đối xứng lạ lùng giữa Donald Trump và Tom Buchanan trong Đại gia Gatsty, cứ như thể nhân vật phản diện trong cuốn tiểu thuyết viết năm 1925 của F. Scott Fitzgerald đã được bưng nguyên xi vào đời thực, dưới một lớp vỏ có phần ồn ào, hoa mĩ hơn của thế kỉ 21. Nét tương đồng này không chỉ hiện diện ở sự bê tha khét tiếng của hai nhân vật, mà việc sẵn lòng hủy diệt bất cứ cái gì hay kẻ nào ngáng đường để đem lại mối lợi cho bản thân của Tom, với nhiều người dùng Twitter, cũng chẳng khác nào thứ quyền lực nực cười đằng sau mọi quyết định và chính sách nhân sự của Trump. Hai người đàn ông, một hiện thực một hư cấu, soi chiếu lẫn nhau từ dáng vẻ bề ngoài đến những phương diện sâu xa, dữ dội nhất. Tom đi đứng hệt như Trump, hung hăng bồn chồn, nói năng hệt như Trump, huênh hoang tự mãn. Y hăng máu lao vào những cuộc đối đầu một-một giữa nơi công cộng, “như thể… được dự phần vào những xúc cảm của y là một đặc ân dành cho đám đông.” Tom khiến các vị thực khách được mời tới dùng bữa tối tại nhà y sửng sốt vì những bài diễn văn chính trị rời rạc không đầu đũa, đay đi đay lại lời cảnh báo rằng “nền văn minh đang đến hồi sụp đổ.” Thói cầu kì kiểu cách quý tộc của y che đậy chất chồng những nỗi bất an, “như thể tính tự mãn của y, dù giờ đã trở nên khó chữa hơn ngày trước, chẳng còn đủ cho y nữa.”

Tom – cựu sinh viên trường Yale, ngôi sao bóng bầu dục, kẻ thoải mái vung vãi số của cải thừa kế khổng lồ, kẻ nối dõi thuần chủng của cái dòng giống mà như y tự nhận là chủng tộc Bắc Âu – là hiện thân cho đỉnh cao địa vị xã hội trong thế kỉ y sống. Trump – nhân vật từng xuất hiện trên trang bìa tạp chí Playboy, một tỉ phú danh tiếng, người đàn ông quyền lực nhất Hoa Kỳ – không thể khác, cũng là hiện thân cho đỉnh cao địa vị trong thời của ông ta. Và những đặc điểm tính cách chung ở hai con người này, đương nhiên, chính là sản phẩm từ sự tương đồng trong quan hệ của họ với quyền lực – nguồn lực ngầm bền vững do quyền thừa kế mang lại trao cho chủ nhân của nó thứ đặc quyền lộ liễu của kẻ được trang bị cả giáo lẫn khiên. Thứ quyền lực kiểu này có logic của riêng nó: nó không hưởng ứng những nguyên tắc xã hội hay luân lý, ngược lại, nhìn chúng như thể những mối nguy hại. Đó là nguyên nhân vì sao đến năm 2018, Đại gia Gatsby lại có thể được đọc như một lời cảnh báo. Dù trong mắt nhiều người, đây vẫn là câu chuyện về Giấc mơ Mỹ, nhưng Đại gia Gatsby còn là câu chuyện về nỗi đe dọa của quyền lực, cũng như cách thứ quyền lực ấy có thể ngông cuồng áp đặt một chân lý phi luân.

Với những độc giả đã lâu ngày chưa mở lại những trang tiểu thuyết, đây là bảng phân vai các nhân vật trong Đại gia Gatsby. Nick Carraway, người kể chuyện, một cậu chàng xuất thân từ vùng Trung Tây Hoa Kì ngây thơ, tự nhận mình là “một trong số những người trung thực ít ỏi mà tôi từng biết.” Anh kiếm một công việc trên phố Wall hòng thoát khỏi những ràng buộc viển vông và nhàm chán của tỉnh lẻ, thuê một căn nhà ở phía kém phần xa hoa hơn thuộc đôi vùng ngoại ô Long Island, tán tỉnh vu vơ Jordan Baker, một cô nàng chơi thể thao có tài giao thiệp rộng nhưng đầy tinh thần hoài nghi. Hàng xóm của Nick là Gatsby, một người đàn ông tự gây dựng gia tài từ cả vận may và phẩm tính; còn phía bên kia bờ vịnh là Daisy Buchanan, đẹp lộng lẫy và sang giàu, em gái họ của Nick và tình yêu của đời Gatsby. Daisy kết hôn với Tom, hắn lại có một cô nhân tình lén lút là Myrtle Wilson. Và Myrtle, đến lượt mình, lại kết hôn với một thợ cơ khí nghèo túng chật vật mà tính cách yếu nhược chỉ đủ để sót lại trong hắn duy nhất sức mạnh của ngọn lửa báo thù.

Ngay từ những trang đầu của cuốn tiểu thuyết, Fitzgerald đã chiêm nghiệm về sự gắn kết giữa giai tầng và tính cách, danh dự và sự trung thực được đánh giá như một “lợi thế” từ điểm nhìn một người thuộc tầng lớp trung lưu khá giả như Nick. Tuy nhiên, rõ ràng, thứ lợi thế do sự giàu có mang lại hiếm khi nào có thiên hướng ngả về lòng trung thực một cách tự nhiên. Ngược lại, nó giành đặc quyền bẻ cong thế giới để phục vụ lợi ích cá nhân. Chiều hướng này của quyền lực được Nick tổng kết bằng những câu văn:

“Họ là những kẻ vô tâm, Tom và Daisy – ngông cuồng đập phá bất cứ thứ gì và hủy hoại bất cứ ai rồi rút êm về trong đống tiền của của mình, trong sự bất cần vô biên của mình, hay vào bất cứ thứ gì giữ họ lại với nhau, và mặc cho những kẻ khác dọn dẹp mớ hỗn độn họ vừa gây ra.”

Tiền bạc là tấm lá chắn giữa sự giàu có vô tâm với mọi hệ quả mà hành động của họ gây ra, tách biệt họ khỏi hiện thực hoang tàn họ vừa hủy diệt cùng ý nghĩa thực của chúng. Bởi vậy, dù Tom (hệt như Trump) đầy tai tiếng vì không chung thủy với vợ mình, lại chính là kẻ lên án chỉ trích sự mất đi những giá trị gia đình. Y lập tức có thể lật mặt rất nhanh từ “gã trụy lạc phóng đãng sang thành kẻ lên mặt dạy đời.” Hành động của y, bởi vậy, dù hỗn loạn bốc đồng, lại hoàn toàn nhất quán với tâm tính y – điều ấy khiến cho việc nói chuyện với y chẳng khác mấy lắm việc “nói chuyện với một đứa trẻ.” Tom vung vãi sức nặng của những lời khước từ đi đôi cùng tiền bạc, gây gổ thô bạo với người đàn ông bên đường vừa bán cho y con chó. Khi George Wilson, người thợ cơ khí, hàm ý nhắc nhở rằng Tom có hơi chút chậm trễ trong việc đưa tới cho hắn xem chiếc xe y đã hứa sẽ bán lại, tất cả những gì Tom đáp lại chỉ là một tiếng “Không” lạnh lùng, như thể cảnh báo rằng hắn ta đã vừa dám bất cẩn vượt lên trên địa vị thấp kém hơn của mình.

Dù vậy, Tom hoàn toàn không phải là nhân vật duy nhất lợi dụng sự giàu có và địa vị của mình như một phương tiện dối trá. Jordan, cũng nắm trong tay những đặc quyền ấy, là một nhân vật “bất tín hết thuốc chữa,” biết cách khéo léo dựa dẫm vào những nguyên tắc được thừa nhận của một xã hội có học thức để bảo vệ danh tiếng của chính mình, hệt như cách mỗi khi lên xe, cô nàng dựa dẫm vào những tay lái điêu luyện cẩn trọng hơn hòng tránh xa mọi rắc rối. Gatsby sắm được cho mình một lý lịch mới ngay khi vận may mỉm cười với anh, và sự thừa mứa quá độ của mọi thứ anh sở hữu – những áo những sách những trái cam những mớ hoa ngồn ngộn – tất cả thực chất cũng chỉ là sự phô diễn sao cho ăn khớp với sự tạo dựng không ngừng những câu chuyện mới về nguồn gốc của chính anh. Nick, một cách tinh tế hơn, cũng khao khát có thể làm những điều tương tự: Anh bỏ tiền mua cả bộ sách tài chính với niềm tin chắc thông thường rằng “cuộc sống khởi sinh lại từ đầu vào mỗi mùa hè,” cố công tìm kiếm giữa bao nhiêu “bí mật chói sáng” của những con người kia một lối thoát cho cuộc sống cũ nhàm của mình cùng “quan hệ rối rắm” với người phụ nữ bị dư luận đồn ầm lên rằng đang cố tình tán tỉnh anh.

Ngay cả Daisy, dù được xây dựng đầy lí tưởng, cũng là minh chứng cho thấy sự liên minh giữa tiền bạc cùng quyền lực nó nắm giữ có thể chà đạp lên chân lý như thế nào. Là vợ của Tom, cô chính là hiện thân của kiểu tài sản y sở hữu và được những người đàn ông khác khao khát theo đuổi: nói theo lời Gatsby, “Tiếng cô cất lên vang âm thanh tiền bạc.” Nó làm nên sức cám dỗ của cô, cực kì khó nắm bắt, nhưng đủ quyền buộc người nghe phải tin tưởng vô điều kiện, dù rất hiếm khi cô nàng thực sự nói lên được những gì mình muốn. Rất nhiều khi, chính Nick cũng không thể nhận ra sự thiếu thành thực cho tới khi cô ngừng nói. Chỉ tới lúc ấy, cậu mới có thể bình tĩnh diễn giải nụ cười tự mãn trên gương mặt cô em họ, “cứ như thể cô nàng vừa xác quyết tư cách thành viên của mình trong nhóm xã hội bí ẩn và tách biệt mà cô và Tom thuộc về” – một cách tỏ rõ vị thế tinh hoa của cặp đôi này qua việc không ngần ngại phô trương rằng chân lý, với họ, chẳng phải là thứ gì đáng bận tâm.

Trump cũng phô diễn một vẻ bất cần hệt như thế. Giữa sự mù mờ của những tuyên bố dễ dàng bác bỏ của ông về chính quyền của mình, rõ ràng, ông cũng dùng sự dối trá để định nghĩa chính mình và chính phủ nội các – những đòi hỏi điên cuồng của ông về việc phải có một lượng công chúng đông đảo chưa từng thấy trong buổi lễ nhậm chức, và một chiến thắng long trời lở đất tại lễ bầu cử với số phiếu bầu kỉ lục được in trên trang bìa của tuần báo Times; tất cả đã trở thành một tiểu sử đậm chất thần thoại về một cá nhân quyền lực bậc nhất.

Trump gần như không dành chút bận tâm nào tới những nguyên tắc của chủ nghĩa hiện thực, và có lẽ đây chính là điểm mấu chốt: Nếu như một kẻ bỏ công sức leo lên những bậc thang xã hội như Gatsby kĩ lưỡng tới từng tiểu tiết trong việc tạo dựng lí lịch cá nhân, chất đầy thư viện của mình bằng hàng chồng sách thực dù những vị khách của anh sẽ chẳng lấy gì làm ngạc nhiên nếu trong thư viện chỉ toàn bìa các-tông đi chăng nữa; Trump biết rằng bí mật của quyền lực nằm ở sự không nỗ lực. Trong thế giới của Trump, cũng như trong thế giới của Tom và Daisy Buchanan, sự giàu có sẽ trở thành vô nghĩa nếu anh phải lao động để có được nó. Ngài tổng thống khơi dậy niềm tin tưởng bằng vẻ huênh hoang tuyệt đối, nói cứ như thật dù chẳng có lấy một hàm lượng nhỏ nhoi sự thật, biến mọi lời mình thốt ta thành chân lí: nó là như thế, bởi tôi nói như thế.

Nhưng điều gì có thể biến thói tự mãn vô biên này thành hành động? Có lẽ, đó chỉ là khi cái mà Nick gọi là “một nhóm xã hội bí ẩn và tách biệt” của những kẻ mang quyền lực phải đối mặt với nguy cơ bị đe dọa. Tom bày tỏ nỗi âu lo này ngay trong phần đầu của Đại gia Gatsby, khi y lên tiếng cảnh báo mở màn bữa ăn tối xa xỉ, rằng: “chủng tộc da trắng,” “đã làm ra mọi thứ để tạo nên nền văn minh,” phải “coi chừng nếu không muốn quyền kiểm soát những thứ ấy rơi vào tay những chủng tộc khác.” Trên tất cả, y muốn duy trì sự dễ dàng mà với nó, y đặt ra những nguyên tắc cho thế giới của mình – “để đảm bảo rằng,” như Ta-Nehsisi Coates từng viết, “tất cả những gì kẻ khác muốn có được đều phải đổi lại bằng sự nỗ lực tối đa, người da trắng (đặc biệt là đàn ông da trắng) dễ dàng có được chỉ nhờ một trình độ tối thiểu” (Những di sản kinh hoàng dưới nhiệm kì tổng thống của Trump). Động lực thúc đẩy Tom, như Coates chỉ ra, cũng là một chủ nghĩa phản động hệt như thế, thứ chủ nghĩa đã trao cho Trump vương miện huy hoàng trở thành người kế vị tổng thống da màu đầu tiên của nước Mĩ.

Dù vậy, mối lo ngại của Tom không trở thành hiện thực cho tới khi y chạm mặt Gatsby – người đàn ông “thoát thai từ lý tưởng thuần khiết kiểu Platon của chính anh ta,” thường trực trên gương mặt một nụ cười “sẽ thành thật tin tưởng bạn nếu bạn đặt đủ niềm tin vào chính mình,” như một lời đáp lễ nghĩa với tất cả những ai ngắm nhìn anh, coi anh như sự hiện thực hóa những giấc mơ của chính họ. Không khó đưa ra những bằng chứng thuyết phục cho thấy Fitzgerald đã xây dựng hình tượng Gatsby – với “làn da rám nắng,” mái tóc hớt sát da đầu, và lối nói năng cẩn trọng suy xét – như một người đàn ông da màu có nước da sáng đã dám vượt mặt dân da trắng, và điều này thực sự là một sự xúc phạm cực độ với Tom, kẻ chủ trương đặc quyền da trắng. Chỉ như thế thôi đã là quá đủ để khiến mọi hành động của Gatsby, cùng tất cả những gì Daisy làm theo anh, trong mắt Tom là không thể chấp nhận được – đó cũng là khi Tom thấy vợ mình, với tất cả sự sang giàu và quyền lực mà cô nắm giữ, “trượt không phanh khỏi vòng kiểm soát của y.”

Tấn thảm kịch mở ra từ đó, và điều đáng nói là, nó ứng chiếu lạ lùng lùng với sự thăng tiến của Trump. Tom tấn công nguồn gốc xuất thân của Gatsby đúng theo cách Trump đòi xem giấy khai sinh của Barack Obama, y tố giác Gatsby là “một Quý ngài Không ai đến từ Không đâu” (Mr. Nobody from Nowhere). Xin được nhắc lại cảnh Daisy, cuối cùng, không thể trở thành hiện thân cho lí tưởng lãng mạn của Gatsby, đầm đìa nước mắt lái xe về nhà, tông phải Myrtle bằng ô tô của Gatsby. Và Tom (sau khi mưu đồ bàn bạc với Daisy, như cuốn tiểu thuyết ngầm tiết lộ) đã xúi giục trong Wilson một ham muốn trả thù thực chất chỉ để phục vụ cho mục đích vụ lợi của chính y – hành động đầy mưu toan này thực chẳng khác mấy cách Trump, với luận điệu chống nhập cư của ông ta, khơi dậy nỗi sợ hãi câm nín vốn đã có cơ hội được quên đi trong cộng đồng những người buộc phải rời bỏ quê hương xứ sở. Tom gọi Gatsby là cội nguồn của mọi nỗi thống khổ của Wilson – vừa là tình nhân của vợ anh ta, vừa là kẻ giết chết cô ta – kết cục, Wilson giết chết cả Gatsby lẫn chính mình, trong khi tình nhân đích thực của Myrtle (Tom) và kẻ sát nhân đích thực (Daisy) rút lui êm đẹp. Chính ở đây, Nick thốt lên lời kết án trứ danh – “Họ là những kẻ vô tâm, Tom và Daisy”. Sự chỉ trích gay gắt này hội tụ trong nó tất cả nỗi ghê tởm trước sự vô đạo đức trong từng tội ác đê tiện cùng mọi thói phù phiếm xa hoa của nhà Buchanans: Sự vô tâm, chưa bao giờ sát với định nghĩa hơn bây giờ, là không chút để ý tới những kẻ mình gây thương tổn.

Hệt như Trump, vị thổng thống đang ráo riết thực thi lệnh cấm đoán người Hồi giáo và trục xuất người Mexico, Tom buộc tội bất cứ kẻ nào đứng bên ngoài cộng đồng của y, cho họ là mối đe dọa với những giá trị chung. Tom ấn định một căn tính cho những nỗi sợ hãi và bất bình vốn hết sức mơ hồ và phi định hình; hệt như cách Trump tuyên bố về một cuộc khủng hoảng quốc gia mà chỉ mình ông mới đủ tài cứu vãn. Ngài tổng thống tồn tại yên ổn giữa một nhóm không ngừng mở rộng những trợ lí và cố vấn thất sủng lần lượt bị giáng chức nhục nhã; cũng thế, Tom bỏ lại sau lưng thi thể của những người đã tiếp tay cho, hay bị đổ lỗi vì những hành động bẩn thỉu của y. Và cũng giống như Trump, kẻ đã phát ngôn hàng loạt những tuyên bố vô căn cứ tự xưng mình là nạn nhân, Tom giữ trong y sự cố chấp không thể lay chuyển về điều gì là đúng, là sai, hay là thực.

Chính điều này, tới hôm nay, có lẽ đã trở thành lời cảnh báo dữ dội nhất mà cuốn tiểu thuyết của Frizgerald đưa lại. Bởi khi Tom và Daisy hủy hoại tất cả những ai và những gì xung quanh họ, cả hai đã không chỉ dừng ở việc phô bày thói vô tâm bất cần trước sự thực và những hệ quả mình có thể gây ra. Hơn thế nữa, họ bóc trần những nhận thức lầm lạc của những người xung quanh mình, phơi lộ rằng Gatsby thực chất cũng là một người bị những mơ mộng hão huyền làm cho mù quáng; rằng Jordan quá ngây thơ khi đặt niềm tin vào lòng trung thực của kẻ khác; và Nick, như chính anh từng thú nhận với Jordan, đã tự lừa dối chính mình và coi đó là vinh hạnh. Cũng thế, Trump vạch trần những lỗ hổng trong lý tưởng của nước Mĩ về chính nó – những chiều hướng xấu xí của thứ quyền lực mà nó nắm giữ, những hạn chế và bất khả của nó. Chính Trump, bởi thế, cũng đã khơi dậy mối trăn trở về việc làm thế nào để kéo những mộng tưởng của nước Mĩ về sát gần hơn với thực tế.

Dẫu vậy, giờ đây thực khó để biết được một ý thức về thực tại rồi sẽ có thể đưa lại được những điều tốt đẹp gì, khi sự cách biệt giữa chân lý và chân lý của quyền lực đã trở nên gần như tuyệt đối. Trong cảnh gần cuối của Đại gia Gatsby, khi nghe Nick đối chất với Tom về những lời đối trá y từng đặt điều để khích động Wilson, Tom đáp lại bằng sự đoan chắc nghiễm nhiên rằng công lý có trong mọi hành động của y, tới mức điều duy nhất Nick có thể đáp lại lúc ấy là im lặng bắt tay y. “Tôi không biết phải nói gì thêm nữa,” Nick trầm ngâm, “tôi chỉ biết duy một sự thực không thể cất thành lời là điều hắn nói không đúng.”

Đặng Hà

(dịch và giới thiệu theo nguồn: “How The Great Gatsby Explains Trump”, Rosa Inocencio Smith, Culture, the atlantic.com, 24/9/2018).

 

 

 

MAYA ANGELOU – HẤP LỰC ĐẠI CHÚNG CỦA TIẾNG NÓI THIỂU SỐ

Image result for maya angelou

Angelou và ý thức đại chúng

Maya Angelou (1928-2014), tên khai sinh là Marquerite Ann Johnson, ra đời tại St. Louis, bang Missouri, ngày 4 tháng 4 năm 1928. Được anh trai gọi âu yếm bằng cái tên “Maya” từ thời thơ ấu, sau này bà tự đặt bút danh cho mình bằng cách ghép thêm phần biến thể tên họ người chồng đầu tiên của mình: Tosh Angelos. Angelou là một ngòi bút cần mẫn, giàu nội lực, toàn năng, không bó gọn trong một thể loại duy nhất nào. Tác phẩm của bà trải từ tiểu luận, thơ, tự truyện, đến kịch bản, sách thiếu nhi,… Dù chưa từng theo học bất kì một trường đại học nào trong đời, bà đã sở hữu khá nhiều bằng Tiến sĩ danh dự và giữ vị trí Giáo sư thỉnh giáng ở nhiều trường đại học danh tiếng. Không chỉ thế, Maya Angelou còn là một diễn giả nổi tiếng có ảnh hưởng lớn, một ca sĩ, một diễn viên, một nhân vật truyền hình nổi bật.

Là một nhà văn, Angelou nổi tiếng nhất qua bộ sáu cuốn tự truyện, mà thành công hơn cả là cuốn đầu tiên: Tôi hiểu vì sao chú chim trong lồng cất tiếng ca (1970). Từ ấn phẩm đầu tay này đến cuốn tự truyện thứ 6, cuốn cuối cùng xuất bản năm 2002, Angelou đã để lại một bộ sách ghi chép thành thực cuộc đời bà, từ mấy năm sau khi chào đời cho đến năm 1986 – một mốc thời gian đầy chủ ý. Không khó để nhận ra quãng thời gian được Angelou lựa chọn đưa vào bộ tự truyện của mình là những năm tháng chứng kiến nhiều biến động lớn lao trong lịch sử nước Mĩ và thế giới, từ chiến tranh thế giới II đến Phong trào đấu tranh của người da màu (Black Power), từ Trào lưu văn hóa Black is Beautiful, các phong trào Hồi giáo của người da màu, rồi lên tới cực điểm là vụ ám sát Martin Luther King Jr., một sự kiện diễn ra chính vào dịp sinh nhật lần thứ 50 của Angelou. Bằng việc lồng những câu chuyện cuộc đời vào những chuyển biến dữ dội của thời đại, bằng điểm nhìn từng trải của người trong cuộc, những cuốn sách của Angelou trao cho chúng ta một nhận thức sâu sắc độc đáo về một thời kì dài trong lịch sử, dưới nhãn quan tranh đấu của một phụ nữ da màu tài năng, quyết liệt.

Dù các nhà phê bình chính thống đa phần mới chỉ thừa nhận giá trị văn chương của thể loại tự truyện trong sáng tác Angelou, các sản phẩm văn chương đã xuất bản và được công chúng mến mộ của bà đã đạt tới một số lượng ‘khủng’ hơn rất nhiều so với việc chỉ dừng lại ở một vài cuốn tự truyện. Không thể không kể đến những tiểu luận đầy cảm xúc của Angelou như “Tôi chẳng mang theo gì trong hành trang của mình” (1993), “Kể cả những vì sao cũng cô đơn” (1997); hay những tác phẩm hấp dẫn, giàu động lực viết cho thiếu nhi như Cuộc sống không làm tôi sợ hãi (1993), Ngôi nhà đa sắc, Gà con thân thiện và Tôi (1994), Kofi và những trò phép thuật (1996), cùng 4 tâp truyện lớn trong bộ Thế giới của Maya (2004) viết về trẻ em các vùng Phần Lan, Ý, Pháp, Hawaii. Không những thế, bà còn tham gia viết kịch, kịch bản phim truyền hình, truyện ngắn, cho ra đời nhiều album thu âm hát và kể chuyện. Nhiều người đến với Angelou trước tiên qua thơ bà, những bài thơ dễ đọc, dễ tiếp cận, dễ đồng cảm, dễ trích dẫn, và cũng là thể loại bà thực hiện nhiều màn đọc và trình diễn ấn tượng trước công chúng. Angelou xuất bản tổng cộng 6 tập thơ, chưa kể một tập hợp các bài thơ lẻ được xuất bản năm 1994. Tập đầu tiên, Tôi chỉ xin một cốc nước mát lành trước khi lìa trần (1971) từng được đề cử giải Pulitzer. Phần lớn công chúng nhắc đến bà trong tư cách là tác giả của, và cũng chính là người trình bày bài thơ “Trên nhịp đập bình minh” tại lễ nhậm chức của Tổng thống Mĩ thứ 42 William Jefferson Clinton ngày 20/1/1993. Sau sự kiện đình đám đó, Angelou trở thành một diễn giả nổi tiếng, liên tục được mời đọc thơ tại những dịp trọng đại như trình diễn bài thơ “Người chiến sĩ ngoan cường và Sự thật giật mình” tại lễ kỉ niệm lần thứ 50 của Liên hợp quốc ngày 6/6/1995; bài “Từ một phụ nữ da màu tới một người đàn ông da màu” tại Lễ diễu hành của người Mĩ gốc Phi diễn ra ở Washington DC. ngày 16/10/1995, và bài “Hòa bình tuyệt vời” được đọc dưới chân cây thông Noel quốc gia tại Nhà Trắng ngày 1/12/2005.

Trên tất cả, tác phẩm của Maya Angelou, dù thuộc thể loại nào hay đến với công chúng dưới hình thức nào, đều bộc lộ một nỗ lực muốn ‘dịch’ những trải nghiệm và tư duy cá nhân thành những sáng tạo dễ tiếp cận nhất cho một lượng công chúng đông đảo nhất có thể – dù là da trắng hay da màu, trẻ hay già, phụ nữ hay nam giới, học cao hay không được học hành, quốc tịch Mĩ hay công dân quốc tế. Câu hỏi đặt ra là: liệu nỗ lực chạm đến lượng công chúng nhiều nhất có thể này ảnh hưởng gì đến chất lượng tác phẩm của bà, khiến chúng bị loãng đi hay được nâng tầm? Các nhà phê bình, thành thực mà nói, đã không loại trừ hay lãng quên Angelou. Nhưng nhìn chung, dưới con mắt giới hàn lâm, bà thường chỉ được nhìn như một tác giả đại chúng thay vì một nhà văn thực thụ. Và đóng góp lớn nhất của Angelou vẫn thường chỉ được ghi nhận không khác mấy với đóng góp của một nhà hoạt động xã hội không hơn: “một tiếng nói nhân từ vì bình đẳng xã hội của thời đại chúng ta” (Harold Bloom). Liệu việc là một nhân vật nổi tiếng viết cho và viết vì đại chúng có nghiễm nhiên loại trừ một tác giả khỏi chuẩn mực văn chương vốn được thừa nhận và đề cao bởi một nhóm các nhà phê bình học thuật hay không? Liệu tham vọng của Angelou có là quá lớn khi không chấp nhận loại trừ hay đánh đổi một kiểu đối tượng công chúng nào, không hi sinh độc giả da trắng để trung thành với riêng cộng đồng da màu, cũng không từ bỏ đối tượng độc giả nam giới chỉ để làm một nhà văn viết cho giới nữ?

Những câu hỏi này có lẽ sẽ tìm được lời giải thích hợp nhất khi nhìn vào các tác phẩm văn chương cụ thể của bà, mà trong bài viết này, tự truyện và thơ sẽ được lựa chọn như là hai thể loại chạm tới lượng công chúng nhiều hơn cả của Maya Angelou.

 

Tự truyện – một nỗ lực đạt tới ‘Nghệ thuật bậc cao’ theo chuẩn mực ‘trắng’ từ những trải nghiệm ‘đen’

Maya Angelou từng kể lại trong một bài phỏng vấn rằng: Robert Loomis, cựu Biên tập viên Nhà xuất bản Random, đã hối thúc bà hãy viết tự truyện về cuộc đời mình, khuyến khích bà ‘hãy viết một tác phẩm tự truyện văn học’. Vốn chỉ tự coi mình là một nhà thơ và nhà viết kịch, bà đã liên tục khước từ lời đề nghị của Loomis, cho đến khi ông đưa ra lời thách thức: “viết một cuốn tự truyện văn học là một chuyện gần như bất khả”. Và Maya lập tức đáp rằng bà nhất định sẽ làm được điều đó.

Angelou thường thừa nhận minh ít khi cưỡng lại nổi những lời thách đấu. Tuy nhiên, điều cần lưu ý là, lời thách thức khiến bà cuối cùng quyết tâm viết tự truyện (mà rồi sẽ đưa đến sự ra đời của ấn phẩm tuyệt vời Tôi hiểu vì sao chú chim trong lồng cất tiếng ca năm 1970) không đơn thuần là lời kêu gọi viết tự truyện, mà là sự thách thức được ngụ ý trong nhận xét của Loomis rằng, viết một tác phẩm tự truyện ‘văn học’ là điều không dễ dàng. Angelou, bởi thế, đã viết, không chỉ từ một khao khát đơn thuần muốn kể lại đời mình, mà còn như để thực hiện một hành vi chính trị. Điều này sẽ sáng rõ hơn khi đặt tác phẩm của bà trong bối cảnh văn chương các tác giả Mĩ gốc Phi. Trong ý thức của họ, chế độ nô lệ vốn đặt nền tảng dựa trên tín điều cho rằng kẻ nô lệ không đáng được coi là con người, và những người kể chuyện mang thân phận nô lệ phản ứng lại bằng nỗ lực viết các tác phẩm văn chương ‘đích thực’ như một lời khẳng định: bản thân họ là con người, và xứng đáng được đối xử như những con người. Rất nhiều tác giả Mĩ gốc Phi, cả trước và sau giải phóng, đã sử dụng chiến lược tự sự này để chống lại hệ thống phân cấp chủng tộc vốn coi họ chỉ là hạng công dân thứ cấp. Cách hữu hiệu để đạt được đích ngắm chính trị này là khả năng cho ra đời thứ ‘nghệ thuật bậc cao’ (high art) vẫn thường được truyền thống châu Âu trung tâm luận xưng tụng như một trong những thành tựu vĩ đại nhất của nền văn minh nhân loại. Không khó để nhìn ra chiến lược sáng tạo này trong văn chương người Mĩ gốc Phi: từ việc Claude McKay và Countee Cullen làm thơ theo các hình thức thơ truyền thống châu Âu; James Weldon Johnson học hỏi lối thơ sonnet của Shakespeare, đến việc họ vay mượn các tích truyện trong thần thoại Hi Lạp, và đặt ra những câu hỏi thần học sặc mùi William Blake.

Không nằm ngoài quán tính ấy, việc Angelou viết Chú chim trong lồng hay các tác phẩm tự truyện khác, thực chất, cũng là đang thực hiện một hành vi chính trị, với mục đích tối hậu là cất tiếng nói đấu tranh chống lại chủ nghĩa phân biệt chủng tộc. Tiếng nói đấu tranh vì quyền người da màu ấy lại được truyền tải qua một hình thức tự sự được truyền thống nghệ thuật lấy ‘phẩm tính trắng’ làm chuẩn tôn lên làm ‘nghệ thuật bậc cao’. Khía cạnh chính trị, bởi thế, nằm ngay từ hình thức tác phẩm, từ kĩ thuật sắp xếp tổ chức mạch sự kiện điêu luyện, sẵn sàng phá dỡ trình tự thời gian để đặt các trường đoạn chuyện kể bên cạnh nhau theo một trật tự có chủ ý. Dù kì vọng về trật tự tuyến tính nghiêm ngặt là điều tất yếu ở công chúng độc giả khi tiếp cận với một tác phẩm tự truyện, nhưng Angelou đã dám dũng cảm chối bỏ điều này khi khai thác những chất liệu cuộc đời mình và tạo hình một ‘nhân vật văn học’ Maya, chặt chẽ đến từng chi tiết, trên hành trình kiếm tìm căn tính và phản đối chủ nghĩa phân biệt chủng tộc – một hành trình từ thịnh nộ, phẫn uất, đến manh nha tư tưởng kháng cự, và cuối cùng là hành động đấu tranh mạnh mẽ dữ dội.

Không thể chối cãi được sự đóng góp của Maya Angelou cho hình thức tự truyện trong văn học Mĩ, mà tới bây giờ, ‘gần như chưa ai có thể vượt qua’. Sự thăm dò độc đáo bản ngã nội tại, cách sử dụng ấn tượng lối viết hài hước tự trào, sự nhạy cảm về ngôn ngữ, và khả năng dung hòa trải nghiệm cá nhân với khát vọng cộng đồng đã nâng Angelou lên thành ‘bậc thầy thể loại’ (Sipokazi Koyana). Tuy nhiên, chính trong chiến lược hình thức theo chuẩn mực nghệ thuật phương Tây truyền thống ấy, điểm đặc biệt của ngòi bút Angelou là khả năng đan cài vào đó những “trải nghiệm đen”, những yếu tố Mĩ gốc Phi như nhạc blue, truyện kể đường phố, và đặc biệt, dư vị của cảm quan nô lệ. Mary Jane Lupton, khi viết lời giới thiệu “Cuộc đời và tác phẩm Maya Angelou” trong cuốn Maya Angelou: Một dẫn nhập phê bình, cho rằng tác phẩm của bà “đã vượt ra bên ngoài truyền thống tự truyện, làm phong phú thêm truyền thống ấy bằng trải nghiệm đương đại và sự nhạy cảm nữ giới”. Tự truyện của Angelou, trước hết, là một câu chuyện cá nhân hết sức riêng tư về những nỗi đau đầu đời, khi mang thai và sinh con trong độ tuổi vị thành niên, nỗi vất vả của một bà mẹ đơn thân. Những trải nghiệm của Angelou trong tư cách một người mẹ da màu thuộc tầng lớp lao động đã ‘giải huyền thoại’ hệ thống chuẩn mực của cộng đồng da trắng về ‘nữ tính’ và ‘mẫu tính’ vốn chỉ bó hẹp trong phạm vi gia đình. Nếu như trong chuẩn mực trung lưu Tây phương da trắng những năm 40-60 thế kỉ trước, thiên chức làm mẹ thường gắn với không gian trong nhà (domesticity); thì với phụ nữ nghèo da màu, làm mẹ chưa bao giờ tách rời với việc lao động kiếm thêm thu nhập. Đây là nguyên nhân khiến Patricia Hills Collins đặt ra thuật ngữ “mother-work” (làm mẹ-làm việc), một thuật ngữ nắm bắt tính gắn kết không thể phân tách giữa việc làm mẹ và đòi hỏi lao động – một đặc trưng trong các cộng đồng Mĩ gốc Phi.

Tự truyện nữ đã càng lúc càng giữ vị trí quan trọng trong hơn lịch sử văn chương da màu. Bản thân hình thức tự truyện đã luôn có đất sống trong văn chương da màu bắt đầu từ thế kỉ 19, với sự xuất hiện của nhiều tự sự nô lệ kể những câu chuyện đau thương về cảnh giam cầm trói buộc, sự trốn chạy, tìm kiếm tự do vốn thường được kể qua lời lớp người nô lệ mù chữ và được những người da trắng theo chủ nghĩa bài nô ghi chép lại. Tự sự nô lệ nam giới chiếm phần lớn trong lịch sử, vượt trội hơn hẳn tự sự nô lệ nữ giới có lẽ là bởi nhiều đàn ông có khả năng trốn thoát hơn phụ nữ, và phụ nữ thường không sẵn sàng liều mạng sống của mình cùng những đứa con. Một mô thức tự sự đen, mà đa phần gắn với phát ngôn nam giới, từ đó, đã được định hình trong cộng đồng Mĩ gốc Phi, với bộ khung cốt truyện lặp đi lặp lại: cảnh sống nô lệ – trốn chạy – tự do. Tác phẩm của Angelou đánh dấu rõ nét nỗ lực thay đổi hệ hình tự sự cũ bằng việc lên tiếng cho những trải nghiệm nữ đương thời. Thay thế cho mô thức hành trình từ nô lệ đến tự do, Angelou kể về hành trình của những kẻ bị bứng khỏi không gian văn hóa gốc. Hành trình mới này gắn với làn song di cư của người nô lệ từ châu Phi sang châu Mĩ, từ các vùng ven biển đến các đồn điền Nam Mĩ, từ nông thôn phương Nam đến đô thị phương Bắc suốt thế kỉ 20, và vẫn còn tiếp tục cho đến tận những năm gần đây. Cảm thức ‘bị bật rễ’ (uprootedness) và khát vọng kiếm tìm một mái nhà thấm đẫm trong các tác phẩm của Angelou. Đứa trẻ trong Tôi hiểu vì sao chú chim trong lồng cất tiếng ca đã bị chính cha mẹ mình đẩy đi xa. Suốt cuộc đời sau này của cô bé, cho đến năm mười sáu tuổi và sinh cậu con trai đầu lòng Clyde, là một cuộc hành trình tìm kiếm một nơi chốn cho mình cảm giác an toàn và quy thuộc. Với cuốn tự truyện thứ 5, Mọi đứa trẻ của Chúa Trời đều cần một đôi giày du hành, Angelou mở rộng phạm vi tìm kiếm mái nhà ra một bối cảnh rộng lớn hơn, từ nước Mĩ thực hiện một cuộc du hành trở lại châu Phi, rồi lại quay về đất Mĩ. Mọi chuyến lên đường, với bà, gần như đều hứa hẹn một sự ‘trở về’: “Đều đặn nhịp nhàng, chiếc xe song mã êm ru đang tới mang tôi về nhà…”

 

Nhà thơ của niềm đồng cảm lớn

Dù có nhiều quan điểm đa chiều về thơ Maya Angelou, dù các nhà phê bình văn học như Harold Bloom có đôi khi không giấu giếm gọi thơ bà là ‘thứ thơ đại chúng, không đưa ra bất cứ một thách thức nào về hình thức cũng như với nhận thức của người đọc”, thứ thơ thuộc dòng ‘self-help’ (Làm thế nào để đọc Maya Angelou); sự thật không thể chối bỏ là thơ Angelou đã có được thành công hiếm thấy trong khả năng tiếp cận và cảm hóa công chúng. Thơ bà đã được đưa vào phim, vào sách thiếu nhi, được dẫn lại trong các buổi lễ kỉ niệm trường, được in trên thiệp mừng, đính trên poster, tóm lại, được nối dài cảm hứng qua vô số các hình thức truyền thông khác.

Khi kể lại việc mình đã ‘gặp gỡ’ và ‘phải lòng’ Shakespeare như thế nào, Angelou đã đưa ra quan điểm rằng văn học, đặc biệt là thơ ca, có thể cất tiếng cho một tiếng nói đồng cảm lớn, đôi khi phá vỡ những rào cản thông thường của sắc tộc, quốc gia, tầng lớp: “Shakespeare là mối tình da trắng đầu tiên của tôi. Dù rằng tôi cũng say mê khâm phục cả Kipling, Poe, Butler, Thackeray và Henley”. Với bà, thơ có khả năng tạo ra một tình yêu thương không biên giới (boundless affinity) bởi nó cho phép chúng ta “đặt chân vào đời sống riêng tư của những người xa lạ, chia sẻ niềm vui sướng hay nỗi khiếp sợ ẩn sâu bên trong họ”, và “khi những giọt nước mắt đã ngập tràn nơi khóe mi cũng là lúc chúng ta quên đi cái cá nhân vị kỉ của mình”. Điểm nhìn này về thơ, không gì khác, là ý thức về quyền năng của ngôn ngữ văn chương – một thức nhận khiến Angelou chủ động dùng thơ để phá vỡ những thiên kiến mù quáng và sai lầm, khơi gợi một tình yêu thương không biên giới, đưa đến sự gắn kết cộng đồng. Chính trong nỗ lực sáng tạo ấy, Angelou đã biến thơ mình thành một can thiệp chính trị. Bà không truyền bá tư tưởng giải phóng một cách trực tiếp công khai mà thường đóng vai một nhân vật trữ tình tuyệt vọng, mất mát, liên tục phải đối mặt với nỗi khốn cùng. Không hô hào lên gân, ngược lại, thơ Angelou không giấu giếm những trăn trở nội tâm và trải nghiệm cá nhân. Điều đáng nói là, bà chọn lựa những kinh nghiệm thân thể và tinh thần được cả cộng đồng chia sẻ. Angelou không ngừng kéo cộng đồng về phe mình, dẫu cộng đồng ấy là da trắng hay da màu, nam giới hay nữ giới. Điều bà hướng đến là xây dựng một cộng đồng nạn nhân – những người đọc, người nghe cùng chia sẻ một câu chuyện, cùng chung nỗi đớn đau và chấn thương của người nói – một cộng đồng mang bệnh đang được chữa bệnh bằng việc lên tiếng thừa nhận nỗi đau. Thơ Angelou, bởi vậy, không che giấu nhu cầu ghi nhớ kinh nghiệm cộng đồng gắn với đòi hỏi liên tục tái xác lập căn tính của chủ thể da màu trong bối cảnh Mĩ.

Nhưng điều ấy không đủ để lí giải sức hấp dẫn lớn của thơ bà. Đáng nói hơn, trong thơ mình, Angelou đã xây dựng được kiểu chủ thể phi biên giới, vượt ra bên ngoài phạm vi chủng tộc hay gốc gác sắc tộc, để truyền tải một ý thức sống mạnh mẽ và kiên cường. Điều mà bất cứ ai cũng có thể được truyền cảm hứng khi đến với thơ Angelou là niềm tin rằng mọi trải nghiệm, dù khủng khiếp đến đâu, cũng có thể vượt qua; dù có phải đối mặt với những nhục nhã hãi hùng nào, cũng không bao giờ được đánh mất hi vọng vào sự phục sinh bản ngã. Như lời một bài thơ được trích dẫn rất nhiều của bà: “Nỗi muộn phiền tôi mang khiến bạn buồn ư?/ Sao phải để nỗi sầu khổ ngáng chân mình?… Bởi như mặt trăng và mặt trời kia/ Cả những cơn thủy triều lên rồi lại hạ/ Như hi vọng cứ mỗi độ xuân lại dâng đầy/ Dẫu ngã xuống tôi cũng sẽ đứng lên” (Tôi vẫn đứng lên).

Bài đã đăng trên Tia sáng (tháng 5/2018)

KÝ ỨC VÀ LÃNG QUÊN: ĐẠO ĐỨC CỦA SỰ GHI NHỚ TRONG NOTHING EVER DIES

Image result for nothing ever dies viet thanh nguyen

Có lẽ không chỉ dừng ở việc mượn một lời đối thoại trong cuốn tiểu thuyết Beloved (Người yêu dấu) của Toni Morrison làm lời đề từ và cũng là nhan đề cho tập tiểu luận về Việt Nam và kí ức chiến tranh, Viet Thanh Nguyen còn muốn nối dài một lối viết mà Toni Morrison đã sử dụng khi viết về cộng đồng da màu của bà trong các tiểu thuyết như Beloved hay các công trình phê bình văn học như Playing in the Dark: Whiteness and the Litarary Imagination (Chơi đùa trong bóng tối: Phẩm tính trắng và Tưởng tượng văn chương). Như chính tác giả từng khẳng định trong cuộc trò chuyện với Paul Tran: “Tôi rất ý thức về những gì Toni Morrison đã nói về việc bà ấy viết như thế nào. Bà luôn viết về người da đen và nói rằng kinh nghiệm của người da đen đã là phổ quát. Không có lời biện hộ nào trong các tác phẩm của bà. Một điều rất quan trọng với tôi là trong cuốn tiểu thuyết không có lời biện hộ, không phiên dịch, không giải thích… Toni Morrison nói trong cuốn Beloved rằng phải giải thích bản thân bạn với người da trắng đồng nghĩa với việc xuyên tạc bản thân, vì bạn bắt đầu cái thế mà ở đó bạn thừa nhận tính dã man hay sự thiếu nhân văn của mình trong mắt người khác. Thay vì viết một cuốn sách để cố gắng chứng tỏ tính nhân văn, một vị trí mà những nhà văn da màu thường bị đặt vào, cuốn tiểu thuyết của tôi bắt đầu từ giả định rằng chúng ta nhân văn, và rồi tiếp tục để chứng minh rằng đồng thời chúng ta cũng phi nhân văn vậy”(1). Cũng xuất phát từ chính lí do ấy mà Viet Thanh Nguyen không muốn biến The Sympathizer (Cảm tình viên) hay bất cứ trang viết nào của ông trở thành những “lời giải thích tính nhân văn của người Việt Nam”. Điều ấy hoàn toàn đúng với trường hợp tập tiểu luận Nothing ever dies. Vietnam and the Memory of War (Không gì mãi chết đi. Việt Nam và Kí ức chiến tranh). Một lần nữa, bằng ngỏi bút của mình, Viet Thanh Nguyen nỗ lực hiện thực hóa một tham vọng lấp đầy chỗ trống mà tác phẩm của các tác giả người Việt và người Mĩ gốc Việt, dù càng ngày càng được dịch và xuất bản nhiều hơn cũng như trở nên mỗi lúc một phổ biến hơn với công chúng Mĩ, gần như vẫn còn bỏ ngỏ: một cái nhìn “trực tiếp đối diện với lich sử cuộc chiến của Mỹ ở Việt Nam từ góc nhìn người Mỹ gốc Việt. Hầu hết các tác phẩm văn chương Việt Nam đã được dịch sang tiếng Anh tập trung vào cách nhìn của người Việt ở miền Bắc, của người Cộng sản”. Trong khi đó, “văn chương của người Mĩ gốc Việt thường tập trung vào trải nghiệm của người tị nạn, những gì đã xảy đến với người Việt khi họ đến Mỹ”(2). Chủ đề này không những trở đi trở lại như một mối mặc cảm của thế hệ di dân người Việt đầu tiên, mà còn trở thành một áp lực cộng đồng đè nặng lên đa phần những người cầm bút thế hệ sau này. Như chia sẻ của nhà văn hải ngoại Andrew Lam: “Khi tôi bắt đầu xuất bản, tôi nhớ rằng tôi đã cảm nhận cả nỗi vui mừng lẫn sợ hãi: tất cả những người trong cộng đồng đều muốn tôi kể câu chuyện của họ, nỗi buồn và nỗi thống khổ của họ, trong đó có cả các thành viên trong gia đình tôi nữa. Điều này đôi khi khó mà cưỡng lại được: “Sao con không viết điều này…”, mẹ tôi vận động tôi. “Sao con lại nói thế, điều đó không đúng”, bác tôi nhận xét thế. Khi đó tiếng nói của tôi khá là đơn độc, và cộng đồng, vốn từ rất lâu vô hình và bị gạt ra bên lề, đã muốn tôi trở thành người phát ngôn cho họ”(3). Tác phẩm của Viet Thanh Nguyen, ngược lại, là một phản ứng đối với mọi trói buộc quá khứ và tự giải phóng khỏi mọi món nợ cộng đồng, không chấp nhận một kết thúc có hậu hay một cái nhìn tình cảm chủ nghĩa khi viết về chiến tranh; để cuối cùng, đặt vấn đề trực tiếp với lỗi lầm, tội ác và sự phi nhân tính như một khả năng không thể tránh khỏi ở mỗi con người, dù tự xác định mình thuộc phe nào hay tuân thủ ý thức hệ nào. Nói cách khác, với Viet Thanh Nguyen, không một ai có thể bào chữa rằng mình vô can trong một cuộc chiến, và cũng không một ai là hoàn toàn vô tội trước quá khứ, bởi chúng ta liên tục phải đối diện với những lựa chọn về ghi nhớ hoặc lãng quên.

  1. Chiến tranh, Kí ức và Cán tính

Ở tập tiểu luận-phê bình Nothing Ever Dies, Viet Thanh Nguyen bắt đầu bằng một điểm nhìn bất toàn về căn tính của một kẻ “vô xứ”, bị “bật rễ” ra khỏi nền văn hóa gốc nhưng cũng tự thấy mình không thể quy thuận hay tự bứng trồng trong không gian văn hóa mới (theo cách nói của Linda Lê). Chính điểm nhìn phi căn cước này của một người Mĩ gốc Việt đã là cơ sở để Viet Thanh Nguyen tiến hành giải bỏ những huyền thoại trong văn chương nghệ thuật trước đó đã góp phần tạo dựng và bảo tồn kí ức, thông qua đó, cố định hóa những cách hình dung của các cộng đồng về chính mình và kẻ khác: “Tôi sinh ra ở Việt Nam nhưng trưởng thành ở Mĩ. Tôi tự coi mình nằm trong số những người Việt bị những hành động của nước Mĩ làm cho hãi hùng nhưng lại có xu hướng tin vào những hứa hẹn của đất nước ấy. Tôi đồng thời cũng tự coi mình thuộc vào số những người Mĩ thường không biết phải hiểu về Việt Nam như thế nào và cũng muốn hiểu xem Việt Nam là thế nào. Người Mĩ, cũng giống như rất nhiều dân tộc khác trên thế giới, có chiều hướng lẫn lộn Việt Nam với chiến tranh và dành cho nó sự vinh quang hay nỗi ô danh tùy vào từng hoàn cảnh. Không nghi ngờ gì, sự nhầm lẫn này đã khiến tôi đôi phần cảm thấy không chắc chắn về chính mình trong tư cách một kẻ thuộc về hai đất nước, một kẻ kế thừa di sản của cả hai cuộc đấu tranh”(4). Mặc dù tự xác định mình như là thành viên của một cộng đồng lưu vong, nhưng ở đây, cũng giống như khi viết cuốn tiểu thuyết The Sympathizer, Viet Thanh Nguyen kiên quyết khước từ mọi “thái độ thường thấy của những người Mĩ gốc Việt” – “hoặc biết ơn vì được người Mĩ giải cứu, hoặc tìm cách hòa giải, không trực tiếp đối đầu trong văn chương”(5) – bằng cách đặt lại vấn đề với chính nước Mĩ vá sự can thiệp của người Mĩ: “Tôi đã dành phần lớn đời mình để minh định sự nhầm lẫn này, một sự nhầm lẫn của chính tôi cũng như của toàn thế giới, và lời giải thích cô đúc nhất mà tôi tìm được về ý nghĩa cuộc chiến được gợi ý từ phát biểu của Martin Luther King: Nếu tâm hồn của nước Mĩ đã tới mức bị trúng độc hoàn toàn, thì một phần của cuộc khám nghiệm tử thi chắc chắn phải xét đến ‘Việt Nam’ […] Cuộc chiến tranh mà Mĩ gây ra ở Việt Nam chỉ là triệu chứng của thứ bệnh dịch sâu xa hơn nhiều trong tinh thần người Mĩ”(5). Trong khi đã quá nhiều người chỉ nhắc đến “giấc mơ” của Luther King, Viet Thanh Nguyen nhận ra ở ông một lời tiên tri. Sự đánh đồng khái niệm “Việt Nam-chiến tranh” đã trở thành một thủ pháp an toàn để đảm bảo “giấc mơ Mĩ”, bằng cách từ chối nhìn Việt Nam chỉ như một mắt xích (dù rất quan trọng) trong một chuỗi những cuộc chiến chưa bao giờ ngừng để thực hiện tham vọng “dài lâu và đều đặn” hòng thống trị vùng Thái Bình Dương, Châu Á và cả Trung Đông, đến mức “thời chiến (wartime) trở thành thước đo thời gian thông thường ở Mĩ”(6). Tuy nhiên, ở chiều ngược lại, những nỗ lực lớn lao từ phía Việt Nam trong việc thoát khỏi sự đồng nhất phi lí ấy, mà điển hình là sự khước từ tên gọi “cuộc chiến tranh Việt Nam” (the Vietnam War) để lựa chọn một cái tên khác – “Cuộc chiến tranh chống Mĩ” (the American War) – cũng là một cách nhằm ấn định lại căn tính cuộc chiến, và cùng với nó, tái định hình căn tính dân tộc: “Những cái tên đầy mâu thuẫn ấy cho thấy cuộc chiến tranh này phải chịu đựng một sự khủng hoảng căn tính đến dường nào, qua câu hỏi nó sẽ được biết đến và ghi nhớ như thế nào. Chiến tranh đi liền với kí ức, đó đã trở thành một điều quá thông thường sau những thảm họa của thế kỷ XX, với hàng tỉ người ngã xuống vẫn gào thét đòi được tưởng nhớ, đòi được tôn vinh, và thậm chí, nếu như tin rằng linh hồn là có thật trên đời, đòi được yên ủi. Vấn đề chiến tranh và kí ức, bởi vậy, đầu tiên và trước nhất là vấn đề về việc phải làm sao để tưởng nhớ người đã khuất, những người không thể tự cất lên tiếng nói của chính mình. Sự câm lặng cam chịu của họ buộc người sống phải lên tiếng thay cho họ”(7). Chính bởi vậy mà “mọi cuộc chiến tranh đều diễn ra hai lần, lần thứ nhất trên chiến trường, và lần thứ hai trong kí ức”(8). Nhưng làm thế nào để phát ngôn thay, hình dung lại, lắng nghe lại những tiếng nói cũ; hay làm thế nào để ghi nhớ chính bản thân cuộc chiến tranh? Đòi hỏi ghi nhớ này, như Viet Thanh Nguyen chỉ ra, là vấn đề trung tâm đối với căn tính của một dân tộc: “Đối với các công dân, những vòng hoa và màn sương mù của tấm vải liệm mang màu huyền thoại đã che phủ lên quá khứ đổ máu. Những cuộc chiến đấu định hình nên quốc gia thường được ghi nhớ nhiều nhất bởi toàn thể công dân như là sự bảo vệ lãnh thổ, chiến đấu vì hòa bình, công lí, tự do, hay những tư tưởng cao quý khác”(9). Được khoác một vỏ bọc vinh quang theo cách này, những cuộc chiến tranh trong quá khứ sẽ lại trở thành lời biện hộ cho những cuộc chiến tranh trong hiện tại mà vì nó, nhân dân sẵn sàng tiếp tục phất cờ chiến đấu, sẵn sàng thi hành mọi nghĩa vụ và nghi thức hòng xác nhận căn tính của chính mình như là đồng nhất với căn tính quốc gia/dân tộc.

Mỗi cuộc chiến tranh, trong hình dung của mỗi dân tộc, theo đó, cũng sẽ mang một căn tính riêng. Coi một cuộc chiến là “sự khởi nguyên của tâm hồn dân tộc” (Bob Shacochis) cũng có nghĩa là kí ức dân tộc sẽ kiến tạo cho nó “một căn tính riêng, một gương mặt với những đường nét được vẽ cẩn trọng, nhìn qua khá giống với gương mặt người dân của đất nước ấy”(10). Theo đó mà với đa phần người Mĩ, cuộc chiến tranh Thế giới thứ hai được coi là một “Cuộc chiến cao đẹp” (Good War), trong khi bi kịch ở Việt Nam khiến Mĩ coi đó là một cuộc chiến tồi tệ, một hội chứng, một mất mát nhức nhối không ngừng đòi hỏi được hàn gắn và phục hồi. Kí ức là kết quả của một quá trình không ngừng loại bỏ, chọn lọc và cắt gọt. Điều ấy hoàn toàn đúng với kí ức chiến tranh. Khi quy cho một cuộc chiến một căn tính cụ thể tương khớp với căn tính dân tộc, rõ ràng là đang đối mặt với sai lầm của sự đơn giản hóa nhằm che giấu và xóa mờ, nhằm cố định những gì được ghi nhớ và phải quên đi, vì những mục đích chính trị khác nhau: “Những cuộc chiến tranh được nhìn như các sự kiện rời rạc kế tiếp nhau, được phân ranh giới rõ ràng trong thời gian và không gian bởi những tuyên bố tấn công và đình chiến, bởi sự ghi chép ngày tháng trong sách sử, bởi các tin tức báo chí và tranh hình tưởng niệm. Nhưng mọi cuộc chiến tranh đều có những khởi đầu tăm tối và những kết cục không hồi kết, thường là sự nối dài một cuộc chiến trước đó và dự báo một cuộc chiến sau. Những cuộc chiến tranh này thường không chỉ diễn ra trong các vùng lãnh thổ được khoanh định để đặt tên cho cuộc chiến, mà lan rộng sang các nước láng giềng; chúng đồng thời cũng được thành hình từ những phòng chiến sự hay phòng họp ở cách xa chiến trường. Những cuộc chiến tranh cũng phức tạp như mỗi cá nhân vậy, và chúng được ghi nhớ bằng những cái tên cũng nói với chúng ta ít ỏi như tên của mỗi cá nhân”(11). Như thế, để ghi nhớ được một cách toàn diện và đa chiều về một cuộc chiến, bước đầu tiên có lẽ là phải khước từ mọi cách định danh cũng như mọi căn tính được phú cho nó. Đây chính xác là điều Viet Thanh Nguyen đã làm khi phủ nhận cả tên gọi “Cuộc chiến tranh Việt Nam” (The Vietnam War) lẫn “Cuộc chiến tranh chống Mỹ” (The American War), bởi: “Từ chối những cái tên đã được ấn định ấy thừa nhận rằng cuộc chiến tranh này, cũng như mọi cuộc chiến tranh khác, là một mớ bùng nhùng/lộn xộn (a messy business) không thể gói gọn một cách dễ dãi vào một khoảng thời gian hay không gian nào… Tôi chỉ muốn đơn thuần gọi nó là một cuộc chiến tranh để dọn một khoảng trống cho việc tái hình dung và tái ghi nhớ cuộc chiến ấy theo một cách khác. Phủ nhận việc đặt tên cho cuộc chiến tranh này cũng thừa nhận một điều mà bất cứ ai đã từng sống qua một cuộc chiến tranh cũng biết, rằng: cuộc chiến tranh của họ không cần bất cứ một cái tên nào, bởi bao giờ nó cũng chỉ đơn giản là chiến tranh”(12).

Cuộc chiến tranh này – mà Viet Thanh Nguyen gọi là “cuộc chiến tranh của tôi” – cũng không thể gói gọn trong bất cứ một đường biên nào. Nó “không chỉ đơn thuần được tham chiến bởi hai phe: người Mĩ và người Việt. Trong thực tế, nó còn đánh dấu sự rạn nứt của hai quốc gia: Mĩ bị chia tách thành phe chủ chiến và phe phản chiến, và người Việt bị chia tách thành hai miền Bắc-Nam, hay phe theo Chủ nghĩa cộng sản và phe chống cộng, những lập trường ý hệ này lại không hề phân giới một cách chặt chẽ theo vùng miền địa lí. Không những thế, còn phải kể đến cả những bên tham chiến như Lào, Campuchia, Nam Hàn…”(13). Sự phức tạp này khiến tham vọng về một sự gợi nhớ trọn vẹn gần như là bất khả. Dù vậy, một sự bao gộp toàn bộ (total inclusion) và hồi tưởng toàn bộ (total recall) chính là đạo đức mà Viet Thanh Nguyen hướng tới, như một cách phản ứng lại với sự thiếu hụt của những kí ức cộng đồng mà mỗi bên, tùy thuộc vào việc nó muốn và cảm thấy dễ chịu hơn ghi muốn nhớ đến điều gì, sẽ chỉ lựa chọn và công nhận những hồi ức nhất định, chẳng hạn: “nếu như người Việt sẵn sàng hơn trong việc ghi nhớ phụ nữ và thường dân của mình, thì người Mĩ sẵn sàng hơn trong việc ghi nhớ kẻ thù, trong khi cả hai phía đều không phía nào có dấu hiệu thể hiện thiên hướng muốn ghi nhớ về người miền Nam Việt Nam, những kẻ bốc mùi thất bại, sầu muộn, thống khổ, và giận dữ”(14). Viet Thanh Nguyen gọi đây là đạo đức của sự ghi nhớ chính mình (ethics of remembering one’s own) – một đạo đức đáng bị cật vấn và thay thế bằng đạo đức của việc ghi nhớ kẻ khác (ethics of remembering others) sẽ “nới rộng việc xác định xem ai là người thuộc phe nào để bao gộp thêm cả những kẻ khác”, từ đó xóa nhòa đi sự phân biệt giữa mình và họ, giữa những người gần gũi (the near) thân thuộc (the dear) với những kẻ xa xôi (the far) đáng sợ (the feared). Bắt đầu từ sự ghi nhớ chính mình để đi đến đạo đức của sự ghi nhớ kẻ khác, một trong những nỗ lực trong tiểu luận của Viet Thanh Nguyen là “xâu chuỗi lại với nhau những kí ức về tất cả các nhân vật trong màn kịch chiến tranh… đàn ông và phụ nữ, người trẻ và người già, quân đội và dân thường, đa số và thiểu số, người thắng và kẻ bại, cũng như vô số các trường hợp nằm ở giữa sự phân chia nhị nguyên ấy, giữa các phe đối lập và không thuộc vào hệ thống phân loại ấy”. Bởi, “nghĩ về chiến tranh chỉ đơn thuần như một trận đánh với những nhân vật chủ đạo là nam giới sẽ không thể hiểu được bản chất của cuộc chiến, và cũng chỉ giống như một cách phục tùng cho lợi ích của bộ máy chiến tranh”(15).

Dù vậy, điều mà tham vọng của ghi nhớ của chúng ta liên tục phải đối mặt là sự thật rằng một kí ức toàn vẹn (total memory) là không thể và không thực tế, vì luôn có một cái gì đó bị lãng quên đi, và đương nhiên, tất cả chúng ta vẫn quên bất kể mọi nỗ lực bỏ ra, không chỉ thế, kí ức bao giờ cũng bị lép vế trước những mối quan tâm khác mạnh mẽ hơn. Tất cả tạo nên một “vùng sa mạc của sự lãng quên có tổ chức” theo cách nói của Milan Kundera: “Trong sa mạc này, kí ức cũng quý hiếm như nước, bởi kí ức là nguồn tài nguyên chiến lược trong cuộc chiến giành quyền lực. Những cuộc chiến tranh không thể nổ ra nếu không có sự huy động kí ức cùng điều vốn đối lập với nó – sự lãng quên (thứ mà, dù có vẻ giống như một sự vắng mặt, lại cũng là một nguồn tài nguyên thực thụ). Các quốc gia nuôi dưỡng và độc quyền hóa, hết mức có thể, cả kí ức và sự lãng quên. Họ xúi giục công dân của họ hãy ghi nhớ chính mình đồng thời lãng quên đi kẻ khác hòng tôi rèn nên tinh thần dân tộc chủ nghĩa vốn vô cùng cần thiết cho chiến tranh, và ban hành một logic duy ngã đối với những cộng đồng chủng tộc, sắc tộc và tôn giáo. Logic thống trị này của việc ghi nhớ chính mình và lãng quên đi kẻ khác mạnh đễn nỗi ngay cả những kẻ bị lãng quên, khi được trao cơ hội, cũng tìm cách quên đi kẻ khác… Không một ai vô tội trong sự lãng quên”(16). Tìm cách dỡ bỏ logic này, thực chất, cũng là đang giải mã một nền tảng đạo đức sâu xa hơn nằm bên dưới sự nhớ và quên: “Với chiến tranh, phép biện chứng căn bản của kí ức và chứng quên không chỉ dừng ở việc nhớ hay quên một sự kiện hay con người nào đó… Nó còn là về việc chúng ta ghi nhớ sự nhân đạo và quên đi sự vô nhân đạo của chính mình, trong khi, ngược lại, ghi nhớ sự vô nhân đạo của kẻ khác và quên đi lòng nhân đạo của họ”(17). Thay vào đó, một kí ức đích thực sẽ vượt lên trên sự lưỡng phân này để đạt đến “đạo đức của sự ghi nhận” (ethics of recognition), nghĩa là “hiểu và nhớ rằng cái phi nhân tính vẫn luôn tiềm ẩn trong con người như thế nào…, nhận ra những nền văn minh được xây dựng trên sự dã man bị lãng quên như thế nào, và trái tim của tăm tối vẫn không ngừng đập trong lòng những xã hội ấy như thế nào”(18). Mượn lời của Jorge Luis Borges, Viet Thanh Nguyen gọi ‘ghi nhớ’ là một “động từ ma quỷ”: “Kí ức đầy ám ảnh, không chỉ bởi bóng ma của những kẻ khác, mà còn bởi chính những điều khủng khiếp chúng ta đã làm, đã chứng kiến và đã thờ ơ, bởi cả những gì không thể cất thành lời mà chúng ta trục lợi từ sự im tiếng ấy. Gánh nặng muộn phiền của quá khứ đặc biệt rõ ràng khi chúng ta nói về chiến tranh và những khả năng hữu hạn của mình trong sự hồi tưởng về nó. Bị ám ảnh và ám ảnh, nhân văn và phản nhân văn, chiến tranh ở lại với chúng ta và bên trong chúng ta, không thể quên đi dù thật khó lòng ghi nhớ”(19).

Và để khảo sát “những dải quang phổ của kí ức”, Viet Thanh Nguyen lựa chọn xem xét nghệ thuật như một công cụ đạo đức của thực hành ghi nhớ. Văn học, nhiếp ảnh, điện ảnh, tượng đài, vật tưởng niệm,… tất cả đều là những dạng thức ghi khắc và làm chứng, đôi khi nhỏ lẻ, phù du, thân thuộc, nhưng đôi khi lại có khả năng cất tiếng cho cả cộng đồng, lịch sử và thời đại. Như chính lời giải thích của Viet Thanh Nguyen cho tập tiểu luận-phê bình này: “Tôi hướng đến các tác phẩm nghệ thuật bởi sau khi những biên bản ghi nhớ chính thống và những bài diễn văn bị lãng quên đi, những cuốn sách chép sử bị thờ ơ và không ai động tới, những kẻ quyền thế rồi cũng về với cát bụi, thì nghệ thuật vẫn còn lại. Nghệ thuật là sản phẩm nhân tạo của trí tưởng tượng, và trí tưởng tượng là bản tuyên ngôn tuyệt vời nhất cho sự bất tử của loài người, thể hiện trọn vẹn cả hành động và khát vọng, nhân tính và phi nhân tính. Kẻ quyền lực sợ hãi phẩm chất kiên trì của nghệ thuật cùng với sức ảnh hưởng của nó tới kí ức, tìm cách làm thuyên giảm, thanh lọc hay áp chế nó”(20). Nothing ever dies, bởi vậy, là bản định giá một diện rộng các tác phẩm văn chương nghệ thuật trong mối quan hệ với chiến tranh và quyền lực, không bị giới hạn bởi bất cứ một đường biên nào về không gian, ý hệ hay về phe phái, để cuối cùng, tìm đến khẳng định một đạo đức đích thực của ghi nhớ và lãng quên.

  1. Đạo đức của sự ghi nhớ chính mình

Đạo đức của sự ghi nhớ chính mình, như Viet Thanh Nguyen chỉ ra, tồn tại như một mã nhị nguyên đảm bảo cho sự vận hành của cỗ máy chiến tranh, chia thế giới ra thành chúng ta trong thế đối lập với kẻ khác, tốt trong thế đối lập với xấu, để dễ dàng hơn trong việc xây dựng khối đồng minh và xác định kẻ thù. Trong khi đó, với những nghi thức, diễn văn, diễu hành, đài tưởng niệm, truyện kể, “những câu chuyện có thật trong chiến tranh”, những thước phim tài liệu…, người dân không ngừng được kêu gọi tưởng nhớ những vị anh hùng dân tộc, những người ngã xuống vì Tổ quốc, trong khi lãng quên đi kẻ thù và cái chết của kẻ thù. Sự gợi nhắc hữu hình và đáng suy ngẫm nhất về đạo đức của việc ghi nhớ chính mình được Viet Thanh Nguyen nhận thấy qua hệ thống các nghĩa trang trên lãnh thổ – nơi chốn yên nghỉ của những người đã khuất. Với riêng trường hợp Việt Nam, hệ thống các nghĩa trang “tác động đến địa lí theo một cách mà nó không thể tác động ở Mĩ, bởi dù đất nước này nhỏ hơn California và rộng hơn New Mexico, đã có hơn một triệu người ngã xuống…”(21). Trong số ấy, hùng tráng nhất có lẽ là nghĩa trang Trường Sơn, mà Viet Thanh Nguyen coi là “thủ đô” (capital) của người đã khuất – nơi chôn cất thi hài của hơn 50.000 người, tương đương với con số người Mĩ hi sinh được tưởng nhớ ở Washington, DC tại Tượng đài Cựu chiến binh Việt Nam. Tuy nhiên, nhìn từ con mắt địa-chính trị, Viet Thanh Nguyen chỉ ra một sự thật rằng: tỉnh Quảng Trị – nơi đặt nghĩa trang này, từng là vùng phi quân sự hoá chia đôi đất nước – không chỉ là cảnh quan ghi dấu nhiều vết tích chiến tranh nhất, mà vẫn còn là một nơi chốn đang ở gần với chiến tranh hơn bất cứ đâu: “Được chôn sâu dưới lòng đất là những vết tích bị nổ tung của chiến tranh, những mảnh bom, những mảnh vỡ, những quả mìn chưa nổ theo kế hoạch hẹn giờ. Nằm im lìm và chết lặng, chúng vẫn đợi thời cơ để kích hoạt và thực hiện nốt sứ mệnh của mình, đã chấm dứt cuộc sống của hơn bảy ngàn người dân trong tỉnh kể từ khi chiến tranh chính thức khép lại, và con số này vẫn không ngừng nhân lên”(22). Như thế, cùng là ngã xuống vì chiến tranh nhưng bên cạnh văn bia, đài tưởng niệm là vô số cái chết bị bỏ qua, bên cạnh kí ức là lãng quên: “Không có một đài tưởng niệm nào cho những cái chết ngẫu nhiên ấy, trừ công tác lắp bộ phận thân thể giả cho những công dân bị què cụt… Mỗi cuộc chiến tranh đều để lại những hậu hoạ không dễ dàng xếp vào bất cứ một sự phân loại dễ chịu nào, những người què cụt, những người mù, những người suy kiệt, tự vẫn, những kẻ điên, những người thất nghiệp, vô gia cư… mà sự tồn tại của họ giữ cho kí ức về cuộc chiến còn sống mãi, trong khi hầu hết mọi người dân chỉ muốn quên đi, hay chỉ muốn ghi nhớ theo một số mẫu hình hạn chế”(23). Những nghĩa trang lặng lẽ và trang nghiêm, ngược lại, đảm bảo cho chúng ta một sự dễ chịu, một ảo tưởng về khả năng khép lại vĩnh viễn của chiến tranh. Nói như Viet Thanh Nguyen, chúng “làm đầy tham vọng về một kí ức được cách ly cả về không gian lẫn thời gian, bởi việc chôn cất người chết cũng chính là chôn cất những kí ức dễ lây lan truyền nhiễm […] Những nghĩa trang liệt sĩ đẹp và bình yên che giấu đi một số điều nhất định đã được ghi lại trong nhiều bức ảnh, những thây người chất đống, tan xác, bị chết thiêu, bị xé nhỏ, những bộ phận tay chân bị bẻ quặp theo những tư thế phi lí và những bộ quần áo đẫm bùn bị giật khỏi thi thể bởi tốc độ của thứ vũ khí con người làm ra để huỷ diệt sinh mạng chính con người. Những bia mộ ấy sẽ trở thành cái mà Milan Kundera gọi là những bông hoa sầu muộn của sự lãng quên (melancholy flowers of forgetting)(24).

Sự câm lặng toả lên từ những nghĩa trang như thế tạo cơ hội tốt nhất cho khả năng uốn nắn kí ức, nói đúng hơn là cho việc diễn giải lại, phục dựng lại và cấu trúc lại kí ức theo những đại tự sự cộng đồng. Dẫn lại ý của nhà văn Joan Didion, kí ức phai nhạt đi, kí ức được điều chỉnh, kí ức biến thiên theo những gì chúng ta nghĩ rằng mình nhớ. Sự uốn nắn của nhu cầu ghi nhớ cộng đồng này giới hạn phạm vi của nó trong “tất cả những người mà chúng ta coi là anh em, là chung dòng máu, là đồng bào, là gắn bó như một, thông cảm và đồng cảm. Đó là những người ở gần quanh ta và gần gũi với ta, nói như triết gia Avíhai Margalit, là những người chúng ta thấy gắn bó ràng buộc một cách tự nhiên với họ bởi họ thuộc về chúng ta thông qua những mối quan hệ ‘dày dặn’ của gia đình, bè bạn, và người trong một nước”(25). Chính cảm nhận về sự gắn bó tự nhiên này đã đem đến cho đạo đức của sự ghi nhớ chính mình một sức mạnh ghê gớm, nảy sinh từ chính những xung động tình cảm của chúng ta và cũng trực tiếp tác động tới xúc cảm của chúng ta, quy định cách chúng ta nhìn chính mình và kẻ khác: “Đạo đức này nảy sinh từ những mối quan hệ mà chúng ta cho là tự nhiên, thường đưa chúng ta tới lòng trung thành vô điều kiện với những gì mình nhớ, ít nhất là trong phiên bản anh hùng ca của nó. Trong chiến tranh, chúng ta thường nhớ về chính mình như là những người cao quý, đức hạnh, chịu đựng và hi sinh. Những chất vấn gây khó chịu về chủ nghĩa anh hùng này là không thể hoặc phải lùi về phía sau”(26). Đó là lí do khiến cho những ai xuất hiện trong các tự sự anh hùng chủ nghĩa này thường hiện diện như là các “nhân vật phẳng/dẹt” (flat characters) theo định danh của tiểu thuyết gia E.M. Forster: “Trên tất thảy, chẳng có gì phẳng hơn những người chết nằm trong nghĩa trang, được xây dựng thành các nhân vật trong những câu chuyện không phải do họ viết nên. Họ tiếp tục vâng phục tập thể và các vị lãnh tụ, những kẻ không ngừng nói thay cho họ, kể câu chuyện về việc Quê hương Đất nước sẽ ghi nhớ sự hi sinh của họ […] Cội nguồn của phong cách xây dựng nhân vật này có thể được thấy trong tranh cổ động thời chiến đặc tả nam nữ anh hùng khởi nghĩa, đức hạnh và luôn mỉm cười, đẹp và dữ dội, thúc giục mọi người đoàn kết và tranh đấu”(27). Cũng có khi các nhân vật thuộc “phe ta” vượt lên trên cách xây dựng điển hình đó để có được một cái nhìn toàn vẹn, nhưng đó cũng là một cách để phân biệt với kẻ khác, những kẻ vĩnh viễn xấu xa: “Thậm chí, nếu có những điều phi đạo đức chăng nữa, chúng ta cũng biện hộ rằng đó là một phần của bản tính người […] Những kẻ ở phe kia, những kẻ thù của chúng ta thiếu sự phức tạp ấy. Họ hiện diện trong nhận thức của chúng ta như là những nhân vật phẳng/dẹt (flat). Những người ở phe ta thì đầy đặn (round), đa chiều, được nhìn từ nhiều chiều kích, dày dặn về xương thịt, cảm nhận, và lịch sử”(28).

Những nhân vật tròn trịa/đầy đặn này thực sự đắc lực trong việc góp phần khẳng định đạo đức của sự ghi nhớ chính mình, dù họ “đi lại và hít thở” trong các tác phẩm chệch khỏi mạch tự sự thống trị. Một trong những tác phẩm điển hình để minh chứng cho điều này mà Viet Thanh Nguyen lựa chọn phân tích là Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh. Với ông, Nỗi buồn chiến tranh là một tiểu thuyết có tính bước ngoặt, nó phơi lộ, lần đầu tiên, việc một cuộc chiến tranh cao quý hướng đến giải phóng đất nước đôi khi lại đầy khủng khiếp với chính những người đã tham gia chiến đấu. Trong nỗ lực kiếm tìm ý nghĩa của cuộc chiến tranh và cơn vỡ mộng hậu chiến, trong sự bao vây bởi gương mặt những người chết, Kiên trở thành nhà văn. Hành trình ngược về quá khứ của Kiên là một hành trình chứng kiến cả tình yêu và chiến tranh đã trở thành mồi lửa bỏng rẫy của kí ức như thế nào, và tro tàn sót lại của nó cũng chỉ là minh chứng cho thấy “những ý niệm hùng hồn về sự lãng mạn, sự trinh trắng, và lòng yêu nước đã bị biến thành cưỡng bức, tàn sát và chấn thương”(29). Dù là một hình tượng phản-anh hùng, Kiên vẫn là đại diện cho bên thắng cuộc, cho những kẻ được quyền ghi nhớ và có khả năng ghi nhớ, dẫu bản thân có phiền muộn, thống khổ, hay thậm chí đã bị biến thành quỷ dữ: “Phiên bản phản-anh hùng của đạo đức này nằm trong một thế giới âm u của phép tương phản sáng-tối. Không có gì ngạc nhiên khi đến cuối truyện, nhà văn Kiên bước ra khỏi căn hộ và biến mất vào bóng tối, chẳng để lại gì ngoài tập bản thảo… Cuộc chiến tranh có thể bị kết tội trong những trang tiểu thuyết nhưng những thanh niên và những con người yêu nước chân chính sẵn sàng hi sinh thân mình thì không. Vừa đầy lí tưởng khi nhìn lại quá khứ, vừa đầy hoài nghi yếm thế khi đối diện với thực tại, Kiên không hợp để sống trong một xã hội hậu chiến chỉ nói về ánh sáng ving quang của chiến tranh. Anh, cũng như rất nhiều người sống sót sau chiến tranh, cả đàn ông và phụ nữ, đang tồn tại ở đường biên tăm tối của u sầu, mất mát và buồn đau”(30). Dù vậy, điều an ủi lớn nhất là khả năng kháng cự lãng quên của những người thuộc bên thắng cuộc, và đặc biệt, khả năng hợp thức hóa sự ghi nhớ ấy trong kí ức cộng đồng. Chính vị thế thuộc về đa số này ban tặng họ sức mạnh và đặc quyền để có được “sự an toàn vừa đủ để có thể cho phép sự xuất hiện của thái độ phản anh hùng”(31). Điều này rất khác với trường hợp những cộng đồng lưu vong thiểu số, những kẻ đã mất đi quê hương đất nước, dù cho là do lựa chọn hay vì hoàn cảnh, và không ngừng bị coi là “kẻ khác” nơi đất khách quê người. Với những cộng đồng này, chỉ sau khi quyền lực ít ỏi của họ được đảm bảo nơi xứ lạ, hoặc sau khi đã sụp đổ niềm tin vào những hứa hẹn của đất khách, khi ấy, mô thức phản anh hùng mới bắt đầu bừng nở trong các tự sự về sự suy đồi đạo đức và sự bất đồng văn hóa. Đó chính là lí do vì sao, Viet Thanh Nguyen tổng kết, ngoài một trường hợp dị biệt là Đinh Linh, đa phần nghệ thuật, văn học và điện ảnh Việt Nam ở Mĩ, trong khi thường tập trung miêu tả những khó khăn của đời sống di cư và nỗi ám ảnh quá khứ, vẫn thích cái đẹp hơn là những gì nghịch dị, vẫn thích cái anh hùng hơn cái phản anh hùng. Văn học Việt Nam ở Mĩ, dù tốt dù xấu, vẫn đặt nền tảng cho khả năng thích nghi của người Việt và lời hứa hẹn của giấc mơ Mĩ, dù ở một mức độ nào đó còn đầy mâu thuẫn(32).

  1. Đạo đức của sự ghi nhớ kẻ khác. Nhân văn và phản nhân văn.

Đối lập với đạo đức của sự ghi nhớ chính mình, đạo đức của sự ghi nhớ kẻ khác “kêu gọi hãy nhớ về kẻ thù và các nạn nhân, về kẻ yếu và bị lãng quên, về những người bị đẩy ra bên lề và thiểu số, về phụ nữ và trẻ em, về môi trường và những loài động vật, về người lưu đày và những kẻ bị cho là quỷ dữ, tất cả những ai đã phải chịu đựng đớn đau trong thời chiến nhưng hầu hết bị lãng quên trong những kí ức dân tộc chủ nghĩa (nationalist memories) về chiến tranh”(33). Trong khi chủ nghĩa dân tộc “là một hình thức mạnh mẽ của nền chính trị bản sắc (identity politics), được vũ trang đầy đủ và không từ khai thác bất cứ một nguồn lực nào để phục vụ chiến tranh, kể cả kí ức và những người đã khuất”, thì sự ghi nhớ kẻ khác là “một kí ức chống lại nên chính trị bản sắc ấy bằng cách gọi lại kẻ yếu, kẻ bị chinh phục, kẻ khác, kẻ thù, và những người bị lãng quên; một kí ức lên tiếng rằng chỉ nhớ về chính mình là thiếu hụt về mặt đạo đức và không thể món trả nợ với quá khứ”(34). Sự ghi nhớ mang tính dân tộc chủ nghĩa từ phía Mĩ được Viet Thanh Nguyen lựa chọn phân tích qua một sản phẩm văn hóa tiêu biểu là bức tường đen được dựng giữa thủ đô New York, khắc trên đó tên của hơn năm mươi tám ngàn lính Mĩ đã chiến đấu và hi sinh trong cuộc chiến tranh: “những cái tên cất tiếng gọi hướng về những người đến thăm, những người này, trong tư cách người hành hương và than khóc, nhắc thầm những cái tên ấy và đôi khi gọi lớn chúng lên. Nơi chốn này, những cái tên này, và những người đến thăm này tạo nên một cuộc tụ họp, một trải nghiệm cộng đồng về kí ức hiển lộ rõ trước mắt nhìn và đôi khi, bằng tai nghe”(35).

Nhưng những hiện diện trên bức tường đen ấy che giấu một sự vắng mặt khác vẫn diễn ra song song với nó – sự vắng mặt khỏi kí ức của những người đã chết nhưng dễ dàng bị lãng quên hơn, những cựu chiến binh phải chịu đựng chấn thương hay cảnh vô gia cư, hay tự sát như trong khảo sát của nhà phê bình Marita Sturken: “những cái chết và những thương tổn hậu chiến còn vượt xa những con số thương vong thời chiến, nhưng đất nước này, cũng như bao quốc gia khác, khó lòng thừa nhận điều ấy. Hơn hết, các quốc gia muốn chấm dứt chiến tranh một cách nhanh chóng, muốn những vết thương chai sạn dần đi trong kí ức thông qua việc quy ước một vài cách kể ‘câu chuyện chiến tranh’ để thay thế cho những gì vẫn không thể khép lại và không ngừng nhiễm độc”(36). Đây cũng chính là cách mà cộng đồng Mĩ ứng xử với cái gọi là “hội chứng Việt Nam” (Vietnam syndrom), hay “nỗi sợ hãi thất bại và sự khiếp sợ chiến tranh đã lây nhiễm giữa những người Mĩ kể từ sau sự bại trận trong chiến tranh Việt Nam”(37). Một trong những cách để người Mĩ dễ dàng đối diện hơn với hội chứng này là kiến tạo một kí ức tập thể để đất nước này có thể tự hình dung về nó như là vĩnh viễn vô tội (perpetal innocent). Điển hình như nhân vật đặc vụ viên CIA nghiêm trang, lý tưởng và thuần khiến Alden Pyle trong tiểu thuyết Người Mĩ trầm lặng của Graham Greene. Nhân danh ủng hộ “lực lượng thứ ba” trong cuộc xung đột ý hệ, anh lén đưa chất nổ sang Việt Nam vào những năm 50, cuối thời Pháp cai trị và trước khi Mĩ sang xâm lược. Dù số thuốc nổ này sẽ được dùng làm vũ khí giết dân thường và đánh bom khủng bố, nhưng điều này hoàn toàn nằm ngoài dự định và nhận thức trước đó của Pyle. Sự giễu nhại mà Greene muốn nhấn mạnh nằm ở chỗ: dù ngây thơ hay cố ý, đó đều là những nguyên cớ dẫn tới hậu quả chết chóc không thể tránh khỏi của sự can thiệp từ phía Mĩ. Viet Thanh Nguyen còn đi tới một kết luận sâu hơn: “phiên bản này của hội chứng Việt Nam, khi xây dựng nước Mĩ như một kẻ ngây thơ nguy hiểm, cho thấy rõ ràng, chiến tranh là một cái gì đó người Mĩ yêu hơn là sợ… Còn cách nào khác để giải thích rất nhiều cuộc chiến tranh mà Mĩ đã và đang tham chiến trong thế kỉ này? Điều khiến Việt Nam đặc biệt đối với Mĩ chỉ là tình yêu ấy không được đền đáp… Đây cũng chính là điều Greene muốn nói khi xây dựng nhân vật Phượng, người tình bí ẩn của Pyle. Pyle yêu Phượng chân thành và muốn cưới cô, nhưng cái chết của anh có vẻ không khiến cô bận tâm cho lắm”(38). Dù rất phản đối việc xây dựng một nhân vật để tượng trưng cho một dân tộc theo cách Greene đã làm khi xây dựng hình ảnh người phụ nữ mang tên Phượng như là biểu tượng cho một đất nước đang bị tranh giành, Viet Thanh Nguyen cũng thừa nhận rằng “trong khi các chiến dịch ở Grenada và Panama và cả những cuộc chiến ở Kuwait, Iraq và Afganistan đều không làm nảy sinh những kiểu dụ ngôn lãng mạn kiểu này” thì nó lại khá dễ xuất hiện trong trường hợp Việt Nam, thể hiện “nỗ lực của giới cầm quyền Mĩ hòng tái xác lập tình yêu của Mĩ dành cho chiến tranh”(39). Thứ tình yêu dành cho chiến tranh, bởi thế, cũng thường xuyên là thứ tình yêu thuộc về nam tính: “Những người lính yêu chiến tranh, hay ít nhất, yêu ý tưởng về chiến tranh, một điều không lấy gì đáng ngạc nhiên, bởi đó là sự nghiệp của họ. Để yêu chiến tranh và yêu phe mình đồng thời căm hận phe kia, họ lựa chọn chỉ ghi nhớ chính mình”(40).

Tuy nhiên, một đạo đức ghi nhớ chính mình dựa trên những mối quan hệ dày dặn (thick relations) của gia đình, bè bạn, đồng bào như đã nói, thực thất, đầy tính bấp bênh và phi tự nhiên. Bởi không thể phủ nhận, sự gắn kết này, trong thực tế, cũng chỉ được kiến tạo giữa ta và những kẻ khác với ta: “Chúng ta gia cố những gắn kết này qua thời gian bằng những câu chuyện chúng ta kể cho nhau nghe về tình cảm gia đình, bè bạn, đồng bào. Ý niệm về gia đình che đậy quá trình ‘làm dày’ này một cách đáng kể, bởi đa số mọi người nghĩ sự gắn kết gia đình là tự nhiên, dù rất nhiều bằng chứng về sự xa lạ trong gia đình là không thể chối cãi: từ việc giết chóc, xâm hại, bạo hành, ấu dâm, đến sự lãnh đạm, ganh ghét, thù hằn. Câu chuyện trong Kinh Thánh về Cain và Abel kể với chúng ta rằng việc giết một người thân với mình là một việc cũng tự nhiên như yêu quý họ; trong khi tự sự phân tâm học của Freud cũng nói với chúng ta rằng khoảng cách giữa bản ngã và kẻ khác đã có trong mỗi người rất sớm ngay khi mới chào đời […] Nhưng bất chấp sự xa lạ giữa chúng ta và kẻ khác, điều may mắn là mỗi người khám phá ra rằng gia đình mình thương yêu mình, và học cách đáp lại tình cảm ấy. Dần dà, chúng ta mở rộng phạm vi những người gần gũi và thân thiết của mình hơn, thêm những người xa lạ vào, biến họ thành bè bạn và láng giềng, sau đó là đồng bào, cho đến khi nhiều người trong số chúng ta học được bài học cuối cùng như Kiên trong Nỗi buồn chiến tranh – hiểu được thế nào là sự hi sinh đúng nghĩa: những người bạn của anh ngã xuống vì những người khác. Dưới sự thống trị của chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa dân tộc, chúng ta quên mất rằng chúng ta đã học cách ghi nhớ những kẻ khác, rằng tình yêu thương là do chúng ta cố gắng mà đạt được chứ không hề tự phát”(41).

Xa lạ thay thế cho gần gũi, được tạo dựng thay thế cho tự nhiên, nỗ lực và rèn luyện thay cho tự phát, những lập luận của Viet Thanh Nguyen không những phủ nhận mọi cơ sở căn bản nhất của sự ghi nhớ chính mình, mà còn đặt vấn đề lại với sự xác định căn tính của mỗi cá nhân. Điều thường xuyên bị che giấu hay xóa mờ đi là quá trình chúng ta “học cách phát triển những thói quen công nhận và coi những kẻ xa lạ là người thân, thường bằng cách tạo ra những nơi chốn của căn tính chung – nơi cái nhìn về kẻ khác cũng như về chính mình được phê chuẩn”. Đạo đức của việc ghi nhớ kẻ khác, ngược lại, chống lại những mầm mống của sự tự nhiên hóa và thường bị áp chế bởi giới cầm quyền. Khi một ai đó nhắc nhở dân tộc mình hãy nhớ về kẻ khác, anh/cô ta đang thực hiện một hành động chính trị và phải đối mặt với nguy cơ bị khép tội bội phản. Trong trường hợp dễ chấp nhận nhất, anh/cô ta sẽ bị những người thuộc phe của mình gọi là kẻ theo chủ nghĩa quốc tế, với hàm ý miệt thị rằng: anh/cô ta có thể là một công dân toàn cầu, nhưng không phải là công dân của chính đất nước mình(42).

Điều phải đòi hỏi, do đó, là một điểm nhìn đa chiều, bởi nếu như chúng ta coi chính mình là chủ thể, thì những kẻ khác, nhìn từ quan điểm của họ, cũng coi họ là chủ thể (subject): “Kẻ khác cũng muốn ‘luôn luôn ghi nhớ’ và ‘không bao giờ quên’ những trải nghiệm của y, lịch sử và kí ức của y. Y cũng sẽ đòi có tên trên những bức tường, gương mặt y cũng đòi được khắc tạc trên những phiến đá, và câu chuyện của y cũng đòi được hiện diện trên trên sách sử”(43). Dù vậy, Viet Thanh Nguyen chỉ ra sự bất tín của chính đạo đức này, bởi mặc dù tưởng như chỉ được hiện thực hóa ở các xã hội tự cho rằng mình mở, đa dạng, và bao dung; thì nó cũng không thể tránh được nguy cơ bị biến thành nguồn lực chiến tranh. Trường hợp điển hình, đương nhiên, là nước Mĩ. Dù tự coi mình là một đất nước cởi mở, bao dung, đa sắc tộc, nhưng “không có gì đáng ngạc nhiên khi sau này, rất nhiều người tị nạn Đông Nam Á và con cháu họ, được đưa tới Mĩ sau cuộc chiến tranh, lại sẵn sàng đứng về phe Mĩ và quân đội Mĩ trong cuộc chiến tranh chống khủng bố. Lịch sử nước Mĩ đã chứng minh rằng nỗi sợ hãi trước những kẻ xa lạ mới xuất hiện nhưng nhiều đe dọa hơn sẽ đẩy người Mĩ lại gần với những kẻ khác, bằng cách đưa họ vào hàng ngũ ‘phe ta’ trong những cuộc chiến chống lại những kẻ xa lạ mới kia. Chống khủng bố… [cũng tạo điều kiện cho] những kẻ xưa kia là kẻ khác có hi vọng xác nhận sự quy thuộc của họ vào nước Mĩ”(44).

Nhưng nếu niềm mong muốn quy thuận và đòi hỏi “trở thành người Mĩ” này liên quan đến một đạo đức khác – Đạo đức của sự ghi nhận, thì việc ghi nhận điều gì và như thế nào mới thực sự là một câu hỏi đáng quân tâm bậc nhất. Sự ghi nhớ chính mình và kẻ khác thường xuyên vướng phải cái bẫy nhân văn: “ngay cả các xã hội khoan dung và nhân văn nhất lên tiếng kêu gọi sự bình đẳng và nhân quyền, thì các xã hội ấy cũng chưa bao giờ thiếu những kẻ khác vô nhân tính được đưa ra để biện hộ cho chiến tranh và bạo lực. Coi mình là nhân văn và phủ nhận sự phi nhân văn trong chính mình là dạng thức căn bản của nền chính trị bản sắc. Chúng ta […] rất dễ dàng quên đi sự phi nhân tính của chính mình và đổ nó cho những kẻ khác… Khi nói ‘luôn luôn ghi nhớ’ và ‘không bao giờ quên’, chúng ta thường hàm ý rằng sẽ luôn ghi nhớ và không quên những gì mà người khác đã gây ra cho mình, cho bạn bè và đồng minh của mình. Còn những gì khủng khiếp chúng ta đã gây ra tốt nhất là ít được nhắc đến hay nhớ đến. Tóm lại, điều mà chúng ta thực sự muốn ghi nhớ và không bao giờ quên chính là nhân tính của mình và sự phi nhân đạo của kẻ khác”(45). Ngược lại, kí ức đích thực gắn với đạo đức của sự ghi nhận sẽ đưa ra một cái nhìn công bằng hơn khi cho rằng kẻ khác, cũng giống như chúng ta, vừa nhân đạo vừa phi nhân đạo: “Đạo đức của sự ghi nhận có lẽ đúng là một liều thuốc giải độc cho chiến tranh và xung đột hơn hẳn so với sự ghi nhớ kẻ khác, bởi nếu chúng ta thừa nhận khả năng gây tai họa của chính mình, chúng ta sẽ ít sẵn lòng bước vào chiến tranh hơn và sẽ muốn xây dựng hơn sự tái hòa giải sau cuộc chiến. Từ chối thừa nhận khả năng gây tổn hại của mình không cản trở sự hòa giải với những người có lẽ cũng đã làm tổn thương chúng ta, nhưng điều ấy khuyến khích chúng ta chỉ tìm kiếm sự nhượng bộ và thú tội từ phía kẻ khác ấy, những người mà có thể chính họ cũng chỉ trông chờ điều đó từ phía chúng ta”(46).

Không những thế, chấp nhận khả năng phi nhân văn của chính mình cũng phải cảnh giác trước nguy cơ vĩnh viễn hóa vị thế nạn nhân của kẻ khác. Sự nhầm lẫn này sẽ dễ dẫn tới việc lí tưởng hóa kẻ khác như là không vướng vòng tội lỗi trong khi buộc tội chính mình. Như Viet Thanh Nguyen chỉ ra, cách các phong trào phản chiến toàn cầu thường nhìn Việt Nam cho đến tận bây giờ chính là “điển mẫu của việc ứng xử với kẻ khác như nạn nhân và đồng nhất nạn nhân với kẻ khác, đóng băng họ trong một sự chịu đựng vĩnh viễn và chủ nghĩa anh hùng cao thượng”(47). Điều này lật lại cái nhìn đơn giản về nỗi ăn năn đạo đức vốn được coi là biểu hiện gốc rễ của nhân tính: “Nỗi ăn năn đạo đức là không đủ […] Sự nguy hiểm của nỗi ăn năn đạo đức nằm ở chỗ nó không ngừng tái xác nhận vị trí trung tâm của những người mang cảm thức ấy, và điều đó lại biện hộ cho việc coi kẻ khác là nạn nhân vĩnh viễn. Như bức ảnh tai tiếng và khủng khiếp về bé gái Trần Thị Kim Phúc chạy trong trận đánh bom napalm, bé gái trong bức hình […] hai cánh tay không ngừng dang rộng trong tư thế Chúa Jesus bị đóng đinh trên thập giá”(48). Thái độ phàn chiến kiểu này giữ những kẻ khác ở nguyên vị thế vô tội, đồng thời đặt một nước Mĩ (ăn năn tội lỗi) lên bên trên một kẻ khác (đáng thương), đảm bảo cho nó một năng lực cảm nhận tội lỗi và vị trí trung tâm của sự chú ý, đặt nó một cách chắn chắn vào trung tâm của truyện kể. Trong khi, sự thật, “là một chủ thể thay vì là một kẻ khác, điều ấy có nghĩa là một ai đó cũng có thể là một tội đồ, và tội lỗi của họ cũng phải được nhìn nhận một cách đủ đầy” như tội lỗi của người Mĩ(49). Khả năng liên đới tới nhân tính này, Viet Thanh Nguyen khẳng định, không tách rời với phạm trù quyền lực do Foucault đề xuất, bởi quan niệm về con người và nhân tính được kiến tạo thông qua quyền lực, nói đúng hơn là, thông qua việc giành quyền xác quyết nhân tính của mình (trong khi phủ nhận nhân tính ở kẻ khác). Ý thức về việc không một ai hoàn toàn vô can trước quyền lực rất có thể sẽ là cơ sở cho các nguyên tắc đạo đức mới, vượt lên trên sự lí tưởng hóa anh hùng và tội đồ, xấu và tốt, mình và họ. Bởi “không một ai là hoàn toàn vô tội trừ trẻ lọt lòng và những nạn nhân khốn cùng nhất”(50), điều chúng ta cần ghi nhớ không chỉ là nhân tính mà quan trọng hơn, là sự phi nhân tính tồn tại bên trong mỗi con người cũng như đằng sau mọi vận hành xã hội.

Như thế, đặt vấn đề đạo đức của sự ghi nhớ, Nothing Ever Dies đã soi chiếu bản chất của mọi cuộc chiến tranh từ điểm nhìn về bản chất nhân tính, để cuối cùng, dẫn đến một nhận thức chân thực nhưng cũng không kém phần bi đát về chiến tranh cũng như về bản ngã, từ đó học cách bao dung hơn với chính mình và kẻ khác. Như lí giải của Viet Thanh Nguyen, “chiến tranh không nảy mầm từ một vương quốc xa lạ, cũng không phải được tiến hành bởi quỷ dữ. Chiến tranh nảy sinh từ vùng đất thiết thân (intimate soil), được nuôi dưỡng bởi bè bạn và xóm giềng, được tiến hành bởi những cậu con trai, những cô con gái, những người vợ, những người cha. Sự mâu thuẫn của chúng ta trong việc xác định căn tính của chiến tranh biểu thị sự mâu thuẫn của chúng ta trong việc xác định căn tính của chính mình, vốn gắn liền với những cuộc chiến tranh mà đất nước chúng ta đang tham chiến. Đó là những cuộc chiến tranh mà chúng ta phải trả giá cho nó, nhận được lợi ích từ nó, và phải chịu chấn thương vì nó. Bất cứ một điều cao quý và anh hùng nào của chiến tranh đều có thể được tìm thấy trong chúng ta, bất cứ quỷ dữ và sự khủng khiếp nào của chiến tranh cũng đều có thể được tìm thấy trong chúng ta”(51).

———–

Tài liệu tham khảo

(1)Viet Thanh Nguyen & Paul Tran, Sự giận dữ trong tiểu thuyết của người Mĩ gốc Á: Cuộc phỏng vấn với tác giả Nguyễn Thanh Việt (Nguyễn Thị Hường dịch), diacritics.org

(2) Viet Thanh Nguyen & Paul Tran, Sự giận dữ trong tiểu thuyết của người Mĩ gốc Á, Bđd.

(3) Viet Thanh Nguyen, Andrew Lam, Aimee Phan, Những tiếng nói mới trong văn chương người Mỹ gốc Việt (Nguyễn Thị Hường dịch), diacritics.org

(4) Viet Thanh Nguyen, Nothing Ever Dies. Vietnam and the Memory of War, Havard University Press, 2016, tr.1.

(5) Viet Thanh Nguyen & Paul Tran, Sự giận dữ trong tiểu thuyết của người Mĩ gốc Á, Bđd.

(5) Viet Thanh Nguyen, Nothing Ever Dies, Sđd., tr.1.

(6) Viet Thanh Nguyen, Nothing Ever Dies, Sđd., tr.7.

(7)(8) Viet Thanh Nguyen, Nothing Ever Dies, Sđd., tr.4.

(9)(10)(11) Viet Thanh Nguyen, Nothing Ever Dies, Sđd., tr.5.

(12) (13) Viet Thanh Nguyen, Nothing Ever Dies, Sđd., tr.8.

(14)(15) Viet Thanh Nguyen, Nothing Ever Dies, Sđd., tr.9.

(16) Viet Thanh Nguyen, Nothing Ever Dies, Sđd., tr.10-11.

(17) (18)(19) Viet Thanh Nguyen, Nothing Ever Dies, Sđd., tr.19.

(20) Viet Thanh Nguyen, Nothing Ever Dies, Sđd., tr.12.

(21) Viet Thanh Nguyen, Nothing Ever Dies, Sđd., tr.23.

(22) (23) Viet Thanh Nguyen, Nothing Ever Dies, Sđd., tr.24.

(24) Viet Thanh Nguyen, Nothing Ever Dies, Sđd., tr.26.

(25) Viet Thanh Nguyen, Nothing Ever Dies, Sđd., tr.27.

(26)(27)(28) Viet Thanh Nguyen, Nothing Ever Dies, Sđd., tr.28-29.

(29) Viet Thanh Nguyen, Nothing Ever Dies, Sđd., tr.32.

(30) Viet Thanh Nguyen, Nothing Ever Dies, Sđd., tr.36.

(31) Viet Thanh Nguyen, Nothing Ever Dies, Sđd., tr.43.

(32) Viet Thanh Nguyen, Nothing Ever Dies, Sđd., tr.46.

(33) Viet Thanh Nguyen, Nothing Ever Dies, Sđd., tr.12.

(34) Viet Thanh Nguyen, Nothing Ever Dies, Sđd., tr.17.

(35) Viet Thanh Nguyen, Nothing Ever Dies, Sđd., tr.48.

(36) Viet Thanh Nguyen, Nothing Ever Dies, Sđd., tr.49.

(37) Viet Thanh Nguyen, Nothing Ever Dies, Sđd., tr.50.

(38)(39) Viet Thanh Nguyen, Nothing Ever Dies, Sđd., tr.51.

(40) Viet Thanh Nguyen, Nothing Ever Dies, Sđd., tr.52.

(41) Viet Thanh Nguyen, Nothing Ever Dies, Sđd., tr.55.

(42) Viet Thanh Nguyen, Nothing Ever Dies, Sđd., tr.60-61.

(43)(44) Viet Thanh Nguyen, Nothing Ever Dies, Sđd., tr.69.

(45)(46) Viet Thanh Nguyen, Nothing Ever Dies, Sđd., tr.71-73.

(47) Viet Thanh Nguyen, Nothing Ever Dies, Sđd., tr.74.

(48) Viet Thanh Nguyen, Nothing Ever Dies, Sđd., tr.75.

(49) Viet Thanh Nguyen, Nothing Ever Dies, Sđd., tr.76.

(50) Viet Thanh Nguyen, Nothing Ever Dies, Sđd., tr.81-82.

(51) Viet Thanh Nguyen, Nothing Ever Dies, Sđd., tr.18-19.

Đời bày ra trước mặt ta điều gì…

Kết quả hình ảnh cho la vie devant soi

Thật khó để viết về Romain Gary như thật khó để viết về những giọt nước mắt, về niềm hạnh phúc trong ý thức đủ đầy gánh nặng cuộc đời mình mang, về món nợ của lòng biết ơn, và một tình yêu bất chấp… Tôi đã theo chân người trong hành trình hướng thượng như nghĩa đen đích xác của công việc một phi công Pháp, của những trang nhật kí hành trình bay, của lòng can đảm diệu kì, hay niềm đam mê viết không tách rời với khát vọng hiện diện. Đó là Lời hứa lúc bình minh – một lời hứa được nâng lên làm lẽ sống, một hình bóng được vĩnh cửu hóa thành bất tử, một tình mẫu tử được ủy mị hóa thành tình yêu, được vun đắp thành lí tưởng, và cực đoan hóa thành duy nhất.

Nên tôi đâu chuẩn bị cho mình một tâm thế sẵn sàng để leo lên leo xuống bảy tầng thang gác, để lục lọi ngụp lặn trong mớ cứt đái nhầy nhụa không cho phép bạn trốn tránh né thoát, dù đang đứng dưới mặt đất ẩm xì nhớp nháp hay đã thục mạng chạy lên tầng bảy. Di chuyển giữa chừng ấy bậc thang, lẫn vào giữa những nghiện ngập, ma cô, chuyển giới, gái đĩ, cửu vạn, là hai hình bóng: một trẻ một già, một được định hướng tôn giáo theo đúng chuẩn đạo Hồi một thâm niên Do Thái, một nhỏ thó một phục phịch phù nề, một đang lớn lên một đi về phía chết. Hai kẻ tội nghiệp nương tựa vào nhau ấy, kẻ này đang ra sức trì níu kẻ kia ở lại bên mình trong nỗ lực điên cuồng cưỡng lại dòng chảy thời gian.

Tôi gần như bị cưỡng chế tuân thủ điểm nhìn của cậu nhóc nhạy cảm Mohamed ngay khi cậu lột trần mọi người, mọi thứ trước mắt mình, thản nhiên như đương nhiên cuộc đời là vậy. Tôi nhớ những khao khát chối bỏ và ‘vươn cao lên trên’ cái-xác-thân-phàm-tục này trong Đời nhẹ khôn kham, vươn cao lên hẳn sự đánh đồng như một thứ mà bất cứ ai cũng đang sở hữu – thân thể và mọi nhu cầu thân thể. Tôi nhớ sự chạy trốn khỏi cơn ác mộng ấy, tôi nhớ nguy cơ người ta chấp nhận phô diễn thô tục mọi thứ tưởng chừng riêng tư nhất như một hành động đầu hàng sức hủy diệt của thời gian. Cái đẹp xác thân trở nên vô nghĩa hơn bao giờ hết, hình ảnh người mẹ ngày một già dần khỏa thân không giấu giếm hổ thẹn ở tác phẩm của Kundera còn là lời cảnh báo – cứ đợi đó, rồi có ngày da thịt này sẽ phản bội ngươi, những người gái đẹp chăm chắm đậy che, ai cũng như ai, đừng hòng mong cầu một đặc ân ngoại lệ. Momo của Romain Gary phải sớm nhận thức điều đó. Tôi không biết nên gọi đó là điềm bất hạnh sớm hay điểm khởi đầu thích đáng cho chiêm nghiệm giản đơn sâu sắc về cuộc đời, hay cả hai. Cậu sớm chọn góc nhìn đồng quy mọi con người vào thế xác, vào cái mà cậu gọi tên ‘lỗ đít’. Quanh cậu là đầy thứ phế phẩm được sản xuất ‘tự nhiên’ từ nó, là một nhà trẻ với những nhóc tì chui ra từ các lỗ đít khác nhau, và Momo phải chăm lo chùi rửa đống lỗ đít nhỏ ấy vì đơn giản cậu là thằng lớn nhất bọn, đống lỗ đít cậu phải chùi càng nhiều càng hứa hẹn những cơn ấm bụng mới bởi đó là khi Madame Rosa có đủ tiền trông trẻ để trang trải vạn thứ cho sự sống của mình cùng những thân phận nhỏ bé bu bám quanh mình. Mẹ đám nhóc này lại toàn những người dùng ‘lỗ đít’ để ‘tự thân vận động’, Momo đặc biệt hơn cả: mẹ nhóc vì ‘tự thân vận động’ bằng lỗ đít nhiều quá mà qua đời, cha cậu – một ma cô, kẻ làm tiền từ việc quản lí đống lỗ đít phụ nữ, cũng vì thế mà giết mẹ, bị buộc tội tâm thần rồi giam cả chục năm trong bệnh viện. Những thứ bị cho là phải che đậy và kết án phạm pháp đó, với Momo, xoàng lắm. Không hẳn giống với nỗi sợ bị lột trần rồi bị tước bỏ bản ngã trong mặc cảm thấp hèn tủi hổ, Momo thản nhiên nhìn con người như dục vọng xác thân để đòi sự công bằng – không chỉ công bằng với thứ mà bất cứ ai cũng sở hữu nhưng lại ra sức chối bỏ, mà công bằng cho mọi thân phận phù du. Chưa ở đâu như trong Cuộc sống trước mặt, những cô gái điếm được bênh vực đến thế. Nhất là những bà điếm già như Madame Rosa, Momo đòi người ta phải tôn trọng và đúng mực. Bởi còn thứ đạo đức giả nào hơn việc phán xét các cô gái điếm và còn nỗi cô đơn nào đáng hãi hùng hơn chính những kẻ dùng thân thể để sinh tồn phải chứng kiến sự hỏng hóc nặng nề ê chề vô dụng của cái điểm tựa cuộc đời duy nhất ấy. Ừ, nếu nói chữ nghĩa đi, thì Romain Gary đang khiến chúng ta học cách đồng cảm tự nhiên bản năng nhất từ góc nhìn của một cậu bé: năng lực đồng cảm từ-dưới-lên.

Với cả cuốn truyện, tôi không biết làm gì khác ngoài chiêm ngưỡng sức hoại hủy tàn nhẫn của tự nhiên. Không một ai thoát khỏi tay nó. Bảy tầng thang ổ chuột thành thước đo lường. Những kẻ quy hàng càng lúc càng nhiều, không trừ ngài bác sĩ đáng kính. Momo kiên quyết chối từ sự thật như nhất mực căm hận tự nhiên. Quy luật rõ mồn một của nó, đen tối và chết chóc. Thay vì nhìn Madame Rosa tồng ngồng thảm hại trong cơn mất trí khôn, cậu đắm chìm vào bức ảnh thời con gái của bà. Thay vì chấp nhận để người ta biến Madame thành thứ thực vật trong bệnh viện, kéo dài sự sống đến hết mức thân thể phì nhiêu của bà còn duy trì được, Momo đấu tranh cho quyền được quyết định mình có hít thở nữa hay không. Cơn vùng vẫy chống lại tự nhiên bắt đầu từ những hành vi nhỏ nhất. Người ta trát phấn bôi son làm gì nếu không phải để tự vẽ lên mặt mình những ảo tưởng của việc bất chấp tự nhiên, đậy điệm đi những chứng cớ tố cáo sự thất bại từng giây phút? Người ta khao khát một đứa con làm gì nếu không phải vì mong muốn một sợi dây tình cảm bất chấp mọi hủy hoại? Madame Rosa cố giữ cho cậu nhóc mười bốn độ dừng mãi ở tuổi lên mười cũng chỉ vì sợ hãi lời bội phản mà thời gian mang lại. Đến lượt Momo, cậu bội phản thời gian, bội phản tự nhiên, bội phản sự tất yếu hủy hoại nhân danh cái chết bằng nước hoa màu vẽ phấn son lên một tử thi tàn rữa bốc mùi – một bằng chứng thê lương cho nỗi tuyệt vọng không của riêng ai.

Đỉnh cao nghệ thuật Momo từng được chứng kiến không phải những thước phim, mà là những thước phim quay ngược – những thước phim không tuân thủ dòng chảy định trước, cái tuyến tính nghiêm ngặt trở thành sự hà khắc tuyệt đối. Hình hài trác tuyệt nhất vơi Momo là một thân thể nửa nam nửa nữ, bộ ngực đầy trên dương vật lớn, nét uốn éo điểm trang trên cánh tay cơ bắp của một võ sĩ hết mùa. Nhưng gì tưởng chừng phản-thẩm mĩ đó lại có khả năng chứa đựng yếu tính của nghệ thuật. Nó không cứu vớt được con người, những đủ sức là lời tuyên chiến với cái tất yếu. Nó không giúp chúng ta trì hoãn được dù chỉ một vài giây đếm ngược, nhưng trao cho ta sức mạnh khi còn được chiêm ngưỡng và hi vọng vào một điều gì đó khác thường, thách thức, bất tuân. Dù sao thì với đời, chúng ta cũng thất bại thảm hại thôi. Cuộc sinh tồn bày ra trước mặt một cậu nhóc sắp đến tuổi trưởng thành chân lí ấy. Nghe có vẻ ‘cuộc sống ở trước mặt’ chẳng hứa hẹn gì ngoài án tử hình treo lơ lửng. Điều quan trọng, có lẽ là chúng ta lựa chọn thái độ nào, và có thể làm được gì đây, trong cơn vùng vẫy này?